Trong bối cảnh Mỹ gia tăng hiện diện tại Tây Bán cầu sau chiến dịch quân sự tại Venezuela dưới thời Tổng thống Donald Trump, giới quan sát đặt câu hỏi liệu Washington có đang vô tình làm loãng sự tập trung chiến lược tại châu Á - Thái Bình Dương, vô hình trung tạo ra những khoảng trống về tầm ảnh hưởng để các cường quốc khác có thể tận dụng.
Theo ông Zack Cooper, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), việc Mỹ can dự quân sự vào Venezuela cùng các chiến dịch gần đây tại châu Phi và Trung Đông đang diễn ra hệ quả là sự phân tán nguồn lực chiến lược của Washington, theo CNA.
“Mỹ chỉ có một mức độ nguồn lực và sự tập trung nhất định. Trong nhiều năm qua, đã có quan điểm cho rằng Washington cần dành thêm năng lượng và ưu tiên chiến lược cho châu Á”, ông Cooper phát biểu tại Diễn đàn Triển vọng Khu vực 2026 do Viện ISEAS - Yusof Ishak (Singapore) tổ chức ngày 8/1.
Tại diễn đàn, các chuyên gia cũng thảo luận khả năng Mỹ và Trung Quốc từng bước hình thành những “vùng ảnh hưởng” không chính thức trong trật tự quốc tế đang định hình.
Tuy nhiên, ông Jia Qingguo, nhà phân tích của Đại học Bắc Kinh, bác bỏ cách tiếp cận này khi trả lời câu hỏi liệu các động thái của Mỹ tại Venezuela có thể “khuyến khích” Trung Quốc thúc đẩy thông điệp “châu Á của người châu Á” hay không.
“Trung Quốc ủng hộ hợp tác toàn cầu và hợp tác đa phương. Khái niệm ‘vùng ảnh hưởng’ là sản phẩm của thế kỷ 19 và không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay”, ông Jia nhận định, đồng thời nhấn mạnh Bắc Kinh phản đối chiến dịch quân sự của Mỹ tại Venezuela và không ủng hộ việc một quốc gia áp đặt ý chí lên quốc gia khác.
Mỹ xoay trục, cục diện khu vực thay đổi?
Sau khi Mỹ bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro cùng phu nhân, Tổng thống Trump đã viện dẫn Học thuyết Monroe - chính sách đối ngoại do Tổng thống Mỹ James Monroe đề ra năm 1823, cảnh báo các cường quốc châu Âu không can thiệp vào Tây Bán cầu.
Trong khi đó, năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từng nêu khái niệm “an ninh châu Á mới”, nhấn mạnh rằng “người châu Á nên tự giải quyết công việc của châu Á, xử lý các vấn đề của châu Á và bảo vệ an ninh của châu Á”.
“Tôi cho rằng sự ổn định của khu vực được củng cố nhờ cam kết mạnh mẽ và rõ ràng của Mỹ, đặc biệt là với các đồng minh có hiệp ước”, ông Cooper nhận định. “Nếu mức độ can dự của Mỹ suy giảm, bất ổn có thể gia tăng”.
Ngược lại, ông Jia cho rằng nhiều người Trung Quốc tin rằng nếu Mỹ “rút tay ra”, khả năng đạt được một cơ chế quản lý tranh chấp trong khu vực, dù chưa thể giải quyết triệt để - sẽ cao hơn.
|
| Jia Qingguo là giáo sư đến từ Trường Nghiên cứu Quốc tế thuộc Đại học Bắc Kinh. Ảnh: ISEAS. |
Quan hệ Mỹ - Trung: Ổn định nhưng mong manh
Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ - Trung tiếp diễn trên nhiều mặt trận, từ thuế quan đến công nghệ, dư luận đang chú ý tới hai chuyến thăm cấp cao qua lại dự kiến giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình trong năm nay, bắt đầu bằng chuyến thăm cấp nhà nước của nhà lãnh đạo Mỹ tới Trung Quốc vào tháng 4.
Ông Jia đánh giá quan hệ Mỹ - Trung hiện tương đối ổn định nhưng cũng “khá mong manh”. “Dù có những thăng trầm, đặc biệt liên quan đến thuế quan, quan hệ song phương đã phần nào ổn định nhờ nỗ lực từ cả hai phía”, ông nói.
Theo ông, hai nước khó đạt được một thỏa thuận thương mại toàn diện trong ngắn hạn, chủ yếu vì Washington chưa sẵn sàng.
“Nếu Tổng thống Trump ký thỏa thuận với Trung Quốc, ông ấy sẽ phải nhượng bộ nhiều hơn so với các đối tác khác, trong khi Mỹ vẫn chưa đạt được thỏa thuận với nhiều nước khác”, ông Jia phân tích.
Nếu hai nhà lãnh đạo gặp nhau tại Bắc Kinh vào tháng 4, điều đó sẽ mang ý nghĩa biểu tượng cho sự ổn định của quan hệ song phương. “Nếu không có mối quan hệ đủ tốt, sẽ khó có một chuyến thăm cấp nhà nước”, ông nhấn mạnh.
Hai bên có thể thảo luận nhiều vấn đề, bao gồm thương mại. Dù khó có một “đại thỏa thuận”, họ có thể xây dựng một khuôn khổ để tiếp tục đàm phán.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng không loại trừ khả năng chính quyền Trump có thể thay đổi lập trường vì lý do chính trị nội bộ.
Hai nhà lãnh đạo từng gặp trực tiếp tại thành phố cảng Busan (Hàn Quốc) vào tháng 10 năm ngoái - cuộc gặp đầu tiên kể từ năm 2019. Khi đó, ông Trump cho biết đã nhất trí với ông Tập về việc cắt giảm thuế quan để đổi lấy việc Trung Quốc siết chặt kiểm soát fentanyl, nối lại nhập khẩu đậu tương Mỹ và duy trì xuất khẩu đất hiếm.
| |
| Tổng thống Mỹ Donald Trump bắt tay với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Busan (Hàn Quốc). Ảnh: Reuters. |
Trong cuộc điện đàm tháng 11, ông Trump cũng chấp nhận lời mời của ông Tập thăm Bắc Kinh vào tháng 4, đồng thời cho biết Chủ tịch Trung Quốc sẽ thăm Mỹ vào cuối năm.
Tuy nhiên, ông Cooper tỏ ra hoài nghi, cho rằng một hội nghị thượng đỉnh như vậy nhiều khả năng chỉ mang lại “những bức ảnh đẹp”.
Một vấn đề khác là khác biệt ý thức hệ - điều mà ông Cooper cho là “không thể giải quyết”.
“Hai nước đang cạnh tranh xem hệ thống nào mang lại kết quả tốt hơn cho người dân và cho thế giới”, ông nói. “Tôi không chắc Mỹ đang thắng thế trong cuộc cạnh tranh đó vào lúc này. Chừng nào vấn đề này chưa được giải quyết, chúng ta khó có thể xây dựng được lòng tin cần thiết cho một mối quan hệ thực sự ổn định”.
Đông Nam Á có thể làm gì?
Khi được hỏi về cách ứng xử của khu vực trước cạnh tranh Mỹ - Trung, ông Jia cho rằng sự ổn định tương đối trong quan hệ song phương là điều tích cực, giúp các nước Đông Nam Á không bị buộc phải chọn bên.
Theo ông, các nước trong khu vực có thể cân nhắc cách thức góp phần định hình mối quan hệ giữa hai siêu cường theo hướng có lợi cho lợi ích của mình.
Ông Cooper cho rằng Đông Nam Á có thể mở rộng hợp tác với nhiều đối tác hơn, như Ấn Độ, các nước châu Âu và những cường quốc khác.
“Đó không phải là giải pháp hoàn hảo, nhưng có lẽ sẽ góp phần ổn định hơn so với việc trông chờ quan hệ Mỹ - Trung tự ổn định trong dài hạn”, ông nói.
Lý giải vận mệnh của các nền kinh tế
Mục Thế giới giới thiệu cuốn “Quốc gia thăng trầm: Lý giải vận mệnh của các nền kinh tế” được NXB Thế giới cho ra mắt vào năm 2018. Tác phẩm làm rõ sự phát triển và đi xuống của nền kinh tế thế giới từ cuối thập niên 1990 đến đầu những năm 2000. Cuốn sách vạch ra 10 quy luật để nhận diện về chu kỳ kinh tế dẫn đến vận mệnh tăng trưởng hay suy thoái của một quốc gia.
> Độc giả có thể xem thêm tại đây.