|
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ trở thành cường quốc có ảnh hưởng lớn nhất tại Trung Đông. Cùng với ảnh hưởng đó, khu vực này cũng liên tục chứng kiến các cuộc xung đột có sự can dự trực tiếp hoặc gián tiếp của Washington.
Đáng chú ý, trung bình mỗi thập kỷ kể từ sau Thế chiến II, Mỹ lại tìm cách lật đổ chính phủ một nước tại Trung Đông, theo Guardian. Những can thiệp này thường để lại nhiều hệ quả phức tạp cho cả quốc gia bị tác động lẫn chính nước Mỹ.
Cuộc chiến hiện nay giữa Iran với Mỹ và Israel được xem là lần bùng phát mới trong chuỗi xung đột ấy. Nhiều nhà phân tích cho rằng đây có thể là cuộc xung đột nguy hiểm nhất trong các cuộc chiến Vùng Vịnh suốt hơn 3 thập kỷ qua, do nguy cơ lan rộng toàn khu vực và tác động tới trật tự quốc tế.
Cuộc chiến vô định
Một trong những nguyên nhân khiến cuộc chiến hiện nay bị đánh giá nguy hiểm là sự thiếu rõ ràng về mục tiêu chiến lược. Trước công chúng, các quan chức Mỹ đưa ra nhiều lý do tham chiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Một số nhấn mạnh lo ngại về chương trình hạt nhân của Iran, trong khi các tuyên bố khác đề cập đến nguy cơ tên lửa đạn đạo hoặc vấn đề an ninh khu vực.
Phó tổng thống JD Vance cho rằng lý do là các cuộc đàm phán hạt nhân trước đây với Iran không đạt kết quả mong muốn. Trong khi đó, Ngoại trưởng Marco Rubio cho biết Washington đã biết trước Israel sẽ tấn công Iran và dự đoán Tehran có thể trả đũa các lực lượng Mỹ trong khu vực. Theo lập luận này, Mỹ cần hành động trước để tránh nguy cơ thương vong lớn hơn.
Rủi ro khác của cuộc chiến hiện nay còn nằm ở quy mô và vị trí địa chiến lược của Iran. Khác với Iraq năm 2003 hay Libya năm 2011, Iran là quốc gia có diện tích lớn, dân số khoảng 90 triệu người, sở hữu lực lượng quân sự đáng kể cùng mạng lưới đồng minh trong khu vực như Hezbollah tại Lebanon, các nhóm vũ trang tại Iraq và Syria, cùng lực lượng Houthi tại Yemen. Điều này làm gia tăng khả năng xung đột lan rộng sang nhiều mặt trận khác nhau tại Trung Đông.
|
| Người Iran chuẩn bị huyệt mộ cho các nạn nhân của vụ tấn công vào trường học ở Minab ngày 2/3. Israel và Mỹ bị cáo buộc đứng sau vụ tấn công nhưng phủ nhận. Ảnh: WANA. |
Ngoài ra, Iran kiểm soát vị trí địa lý quan trọng gần eo biển Hormuz, tuyến đường vận chuyển khoảng 20% lượng dầu mỏ toàn cầu. Nhiều chuyên gia năng lượng cảnh báo sự gián đoạn nào tại khu vực này sẽ gây biến động lớn đối với thị trường năng lượng và kinh tế toàn cầu.
Nỗi lo lặp lại vũng lầy Iraq cũng được nhắc đến trong các tính toán của Washington. Tổng thống Donald Trump cho biết ông đang tìm kiếm một nhân vật tại Iran có vai trò tương tự bà Delcy Rodríguez, người đã thay thế cựu Tổng thống Nicolás Maduro lãnh đạo Venezuela theo cách đáp ứng kỳ vọng của Washington hơn.
Trong tuần trước, ông Trump nói từng xác định được một số ứng viên tiềm năng cho kịch bản chuyển tiếp quyền lực tại Iran, nhưng sau đó thừa nhận nhiều người trong số đó đã thiệt mạng sau cuộc không kích vào tòa nhà chính phủ.
Nhiều nhà phân tích còn chỉ ra rằng vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở sức mạnh quân sự, mà ở khoảng cách giữa mục tiêu và phương tiện thực hiện. Chính quyền Mỹ nói tới các mục tiêu như lật đổ chính quyền Iran, phá hủy chương trình hạt nhân hay làm suy yếu năng lực tên lửa của Tehran, nhưng các mục tiêu này khó đạt được chỉ bằng các cuộc không kích, theo Middle East Monitor.
Theo nhiều đánh giá quân sự, việc làm sụp đổ một quốc gia có quy mô và cấu trúc nhà nước như Iran gần như không thể thực hiện chỉ từ trên không. Một chiến dịch như vậy thường đòi hỏi chiến tranh trên bộ kéo dài, kiểm soát lãnh thổ và duy trì lực lượng chiếm đóng, điều từng xảy ra tại Iraq sau năm 2003.
Kịch bản này đồng nghĩa với chi phí rất lớn về nhân lực và tài chính, điều khó nhận được sự ủng hộ từ công chúng Mỹ và Quốc hội, đặc biệt trong bối cảnh Washington đang phải phân bổ nguồn lực để cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc và Nga.
Trong điều kiện không có kế hoạch triển khai bộ binh quy mô lớn, cuộc xung đột có nguy cơ trở thành chiến tranh tiêu hao kéo dài, thay vì chiến dịch có mục tiêu kết thúc rõ ràng.
“Hãy nói cho tôi biết cuộc chiến này sẽ kết thúc như thế nào?”, tướng David Petraeus, khi đó là chỉ huy lực lượng Mỹ tại Iraq, từng đặt câu hỏi trên đường tiến về Baghdad năm 2003. Câu hỏi đó đến nay vẫn tiếp tục được nhắc lại khi xung đột tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn khó đoán hơn. Và có vẻ như, nước Mỹ chưa rút ra bài học từ hai cuộc chiến Vùng Vịnh trước đó.
|
| Biểu ngữ có hình ảnh cố Lãnh đạo tối cao của Iran, ông Ayatollah Ali Khamenei, được treo trên phố ở Tehran, Iran, ngày 1/3. Ảnh: WANA. |
Cuộc chiến Vùng Vịnh lần I: Mục tiêu rõ ràng
Cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất diễn ra trong giai đoạn 1990-1991, sau khi Iraq đưa quân vào Kuwait, dẫn đến Tổng thống Mỹ George HW Bush (Bush “cha”) phát động chiến dịch quân sự nhằm đẩy lùi lực lượng Iraq.
Theo Guardian, một điểm “tích cực” của cuộc chiến này là có phạm vi, mục tiêu, và thời hạn rõ ràng, trong tầm kiểm soát. Lực lượng Mỹ đã có thể dễ dàng đẩy lùi lực lượng Iraq, đồng thời duy trì được sự ủng hộ của liên minh các nước Ả-rập trong khu vực, một phần nhờ đảm bảo Israel không tham chiến.
Nước Mỹ cũng tôn trọng nghị quyết Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về giải phóng Kuwait, không thừa thắng tiến quân tới thẳng thủ đô Baghdad của Iraq. Quân đội Mỹ và đồng minh nhanh chóng đạt được mục tiêu quân sự sau chiến dịch trên bộ chỉ kéo dài khoảng 100 giờ.
Tuy vậy, cuộc chiến vẫn để lại nhiều hệ quả. Tại thời điểm ấy, người Kurd và cộng đồng Hồi giáo Shiite tại Iraq từng được Mỹ khuyến khích nổi dậy chống chính quyền Tổng thống Saddam Hussein. Nhưng khi bị trả đũa sau đó, họ không nhận được hỗ trợ từ Tổng thống Bush “cha”. Theo Guardian, sự kiện này có thể đã để lại bài học cho người Kurd ở Iran hiện nay về cái gọi là “lời hứa của Washington”.
Cuộc chiến cũng dẫn đến sự hiện diện quân sự lâu dài của Mỹ tại khu vực. Khoảng 500.000 binh sĩ Mỹ đã được triển khai đến Trung Đông trong giai đoạn này, sau đó được điều động tới mạng lưới căn cứ quân sự Mỹ tại khắp vùng Vịnh, khu vực Levant và miền nam Thổ Nhĩ Kỳ.
Tọa lạc tại những vị trí chiến lược nhằm giúp Mỹ kiềm tỏa cả Iran và Iraq, các căn cứ này về sau đã trở thành nền tảng cho ảnh hưởng độc tôn của Mỹ tại Trung Đông. Chúng cũng chính là những mục tiêu đang chịu đòn không kích của Iran hiện nay
| |
| Các binh sĩ Iraq giơ cao cờ trắng đầu hàng trong trận chiến trên bộ ở Kuwait vào tháng 2/1991. Ảnh: Reuters. |
Cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ hai: Mỹ tham chiến khi không hiểu
Cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ hai, thường được gọi là chiến tranh Iraq, diễn ra từ năm 2003 đến 2011. Thời điểm này, Tổng thống George W Bush (Bush “con”) xác định rằng phải lật đổ chính quyền Tổng thống Saddam Hussein vì cáo buộc sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Theo Guardian, trong cuộc chiến này, Mỹ bước vào cuộc chiến với ít nhất một mục tiêu rõ ràng, dù nó được dựa trên thông tin tình báo sai lầm. Sau cuộc chiến, người ta không thể tìm thấy cái gọi là “vũ khí hủy diệt hàng loạt” tại Iraq.
Và dù là vì sai sót hay gian dối, Mỹ cũng đã tham chiến khi không có đủ hiểu biết về đất nước Iraq hay hệ quả tiềm tàng sau khi ông Hussen bị lật đổ, thể hiện qua thái độ lạc quan của một số quan chức.
“23 triệu con người có học thức cao nhất trong thế giới Ả-rập sẽ chào đón chúng ta như những người giải phóng”, Guardian dẫn lời ông Paul Wolfowitz, khi đó là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, nói trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ năm 2003. Ông còn cho rằng Iraq sẽ không rơi vào xung đột sắc tộc nghiêm trọng trong thời kỳ hậu Saddam vì trong quá khứ chưa từng xảy ra chuyện ấy.
| |
| Lính thủy quân lục chiến Mỹ giúp người dân Iraq kéo đổ tượng Tổng thống Saddam Hussein ở Baghdad. Ảnh: Guardian. |
Một nhân vật khác có thái độ chủ chiến chính là ông Benjamin Netanyahua, khi đó là lãnh đạo phe đối lập Israel. Thủ tướng Israel tương lai nhận định việc loại bỏ Saddam Hussein có thể tạo ra hiệu ứng tích cực trong khu vực.
Nhưng thực tế diễn ra khác hoàn toàn. Theo John Sawers, cựu lãnh đạo cơ quan tình báo MI6 của Anh và từng là đặc phái viên Anh tại Baghdad năm 2003, tình hình sau khi Mỹ đưa quân vào Iraq nhanh chóng rơi vào hỗn loạn.
“Người ta không có kế hoạch thực sự nào cho giai đoạn sau chiến tranh”, ông nói. “Lính Mỹ chỉ biết cố thủ trong xe tăng và xe bọc thép, đầu đội mũ sùm sụp, đeo kính râm che kín mắt, không hề có tương tác với người dân Iraq. Họ tưởng rằng sau khi Mỹ lật đổ Saddam, lực lượng lưu vong Iraq sẽ trở về tiếp quản và mọi thứ thế là ổn thỏa”.
Theo nhiều ước tính, cuộc chiến Iraq đã tiêu tốn khoảng 2.000 tỷ USD. Số người thiệt mạng được các nghiên cứu đưa ra trong khoảng từ 150.000 đến 1 triệu người.
Cuộc xung đột cũng tạo điều kiện cho nhiều tổ chức vũ trang nổi lên, trong đó có tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng. Đồng thời, ảnh hưởng của Iran tại Iraq được cho là gia tăng sau khi chính quyền Saddam Hussein sụp đổ.
| |
Binh sĩ Mỹ dẫn giải tù binh tại Ramana, gần biên giới Iraq với Syria, vào tháng 11/2005. Ảnh: Guardian. |
Philip Gordon, người từng là cố vấn an ninh quốc gia của cựu Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris, cho rằng từ năm 2015 đã có những sai lầm căn bản trong thái độ của Mỹ với chính sách thay đổi chế độ.
“Nếu có ai cho rằng Mỹ có thể giải quyết các vấn đề Trung Đông miễn là ‘làm đúng cách’, họ cần nhìn lại thực tế rằng tại Iraq, Mỹ can thiệp và chiếm đóng, kết quả là một thảm họa tốn kém. Tại Libya, Mỹ can thiệp nhưng không chiếm đóng, kết quả cũng là thảm họa tốn kém. Tại Syria, Mỹ không can thiệp cũng không chiếm đóng, và kết quả vẫn là một thảm họa tốn kém”.