Kể từ sau Thế chiến II, đặc biệt từ thập niên 1970, toàn cầu hóa thường được kể như câu chuyện của tăng trưởng, tự do thương mại và những chuỗi cung ứng trải dài khắp các châu lục. Tuy nhiên, qua khảo cứu lịch sử, Harold James cho rằng nhiều bước ngoặt quan trọng của tiến trình này lại diễn ra trong khủng hoảng.
|
| Bản tiếng Việt sách Bảy cuộc khủng hoảng định hình toàn cầu hóa do Omega+ liên kết Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật phát hành. Ảnh: O.P. |
Từ khủng hoảng thế kỷ XIX đến Đại suy thoái
Bảy cuộc khủng hoảng định hình toàn cầu hóa được Harold James viết sau đại dịch Covid-19, thời điểm thế giới chứng kiến đứt gãy chuỗi cung ứng, xung đột địa - chính trị và sự hoài nghi đối với các thể chế quốc tế. Từ bối cảnh ấy, tác giả lần ngược lịch sử để phân tích vai trò của các cú sốc lớn trong tiến trình toàn cầu hóa.
Cuốn sách gồm 7 chương, khảo sát các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ thế kỷ XIX đến nay. Mỗi chương không chỉ phân tích diễn biến kinh tế, mà còn đặt chúng trong bối cảnh tư tưởng và chính sách đương thời, gắn với những nhân vật có ảnh hưởng lớn đến lịch sử kinh tế.
Mở đầu là Great Famine of Ireland (Đại nạn đói Ireland) giữa thế kỷ XIX, khi bệnh mốc sương phá hủy mùa màng khoai tây - nguồn lương thực chính của phần lớn dân cư nghèo. Hệ quả là khoảng 1 triệu người chết vì đói và bệnh tật, khoảng 1-2 triệu người buộc phải di cư, chủ yếu sang Mỹ, Canada và Anh. Dân số Ireland sụt giảm nghiêm trọng và phải mất nhiều thập niên mới phục hồi.
Theo Harold James, Đại nạn đói Ireland không chỉ là thảm họa nhân đạo mà còn là một cú sốc cung quy mô lớn, tác động tới thị trường lao động và dòng di cư xuyên Đại Tây Dương, qua đó ảnh hưởng đến cấu trúc kinh tế toàn cầu thời kỳ đầu toàn cầu hóa.
Tiếp đó là Panic of 1873 - cuộc khủng hoảng tài chính khởi phát từ sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Vienna (Áo) rồi nhanh chóng lan sang Đức, Anh và Mỹ. Khi các bong bóng đầu cơ vỡ tung, suy thoái lan rộng giữa các trung tâm kinh tế lớn. Sự kiện này cho thấy mức độ liên thông ngày càng sâu của hệ thống tài chính quốc tế cuối thế kỷ XIX.
|
| Những người thất nghiệp xếp hàng bên ngoài một nhà bếp từ thiện do AI Capone mở tại Chicago vào tháng 2 năm 1931, trong thời kì Đại khủng hoảng. Nguồn: wikipedia. |
Đỉnh cao của chuỗi đứt gãy đầu thế kỷ XX là Great Depression. Cuộc sụp đổ thị trường chứng khoán Mỹ năm 1929 nhanh chóng kéo theo suy thoái toàn cầu giai đoạn 1929-1933. Thương mại quốc tế sụt giảm mạnh, thất nghiệp gia tăng, nhiều quốc gia quay sang bảo hộ và kiểm soát vốn. Đây là bước ngoặt khiến mô hình kinh tế tự do cổ điển bị thách thức nghiêm trọng.
Không dừng ở việc mô tả diễn biến kinh tế, Harold James còn đặt mỗi cuộc khủng hoảng trong tương quan với một gương mặt tiêu biểu của thời đại. Từ những tranh luận về bản chất chủ nghĩa tư bản gắn với Karl Marx, đến các đề xuất cải cách tiền tệ và tài chính của Karl Helfferich, rồi những học thuyết can thiệp nhà nước của John Maynard Keynes, mỗi biến cố đều song hành cùng một cuộc chuyển dịch trong tư duy kinh tế. Theo tác giả, khủng hoảng không chỉ làm rung chuyển thị trường mà còn thử thách, điều chỉnh và tái định hình các học thuyết chi phối chính sách.
Những cú sốc hiện đại và tái cấu trúc toàn cầu hóa
Sau Thế chiến II, hệ thống Bretton Woods (1944) ra đời nhằm ổn định tiền tệ và thương mại quốc tế. Tuy nhiên, các cú sốc mới tiếp tục xuất hiện. Lạm phát thập niên 1970 và khủng hoảng năng lượng làm lung lay trật tự tiền tệ hậu chiến, tạo điều kiện cho các quan điểm kinh tế thị trường tự do trỗi dậy.
Tư tưởng kinh tế thị trường tự do của Milton Friedman và Friedrich Hayek nhấn mạnh kiểm soát cung tiền, đề cao cơ chế thị trường như một “trật tự tự phát” và hạn chế vai trò can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế dần có ảnh hưởng sâu rộng đến chính sách tại Mỹ và nhiều nước phương Tây.
|
| Một bức ảnh chụp trong thời kỳ khủng hoảng năng lượng những năm 1970. Nguồn: economist. |
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 là một chương quan trọng khác trong cuốn sách. Bắt nguồn từ thị trường bất động sản và hệ thống tài chính Mỹ, cú sụp đổ nhanh chóng lan rộng sang châu Âu và các nền kinh tế mới nổi. Hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng thanh khoản, chính phủ buộc phải can thiệp quy mô lớn để cứu trợ. Vai trò của các nhà hoạch định chính sách, trong đó có Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ khi đó là Ben Bernanke, trở thành tâm điểm tranh luận.
Gần đây nhất là khủng hoảng Covid-19, được Harold James xem như một phép thử đối với cấu trúc toàn cầu hóa. Đại dịch làm lộ rõ những điểm dễ tổn thương của hệ thống kinh tế liên kết sâu rộng, từ sản xuất, thương mại đến năng lực điều phối quốc tế. Các xu hướng tái định vị sản xuất, đa dạng hóa nguồn cung và gia tăng vai trò nhà nước, theo tác giả, cho thấy toàn cầu hóa đang bước vào một giai đoạn tái cấu trúc mới, với những tranh luận chính sách tiếp tục gắn với các nhân vật có ảnh hưởng như nhà kinh tế và cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Larry Summers.
Một luận điểm xuyên suốt cuốn sách là sự phân biệt giữa cú sốc cung và cú sốc cầu. Các cú sốc cung - như nạn đói hay khủng hoảng năng lượng - có thể thúc đẩy điều chỉnh cấu trúc và mở rộng kết nối để khắc phục thiếu hụt. Trong khi đó, khủng hoảng tài chính và suy giảm cầu lại dễ dẫn tới co cụm, bảo hộ và xu hướng phi toàn cầu hóa.
Thông qua bảy cuộc khủng hoảng từ giữa thế kỷ XIX đến nay, Harold James cho rằng toàn cầu hóa vận động theo chu kỳ mở rộng - đứt gãy - tái cấu trúc. Mỗi cú sốc lớn đều để lại dấu ấn lâu dài trong hệ thống tài chính, thương mại và tư duy chính sách. Từ đó, ông nhận định trật tự thế giới hiện đại không phụ thuộc vào việc toàn cầu hóa đang mạnh hay yếu, mà vào cách nó được định hình lại trước những chấn động mới của thế kỷ XXI.
Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức - Znews
Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức - Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@znews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.
Trân trọng.