Cách thức pha nấu trong cung đình nhà Nguyễn ra sao hiện chưa rõ, song theo lối Huế dân dã trước đây, nấu chè phải bằng cái om tròn ủng miệng loe, với thanh tre cật dài làm kẹp. Người ta vốc lá chè thả vào om, rồi mới đổ nước. Sau vài lần nước sôi gần trào, lại chế thêm nước lã trấn xuống. Đến khi chè chín, trước khi trút ra bát, trong bát đã phải trữ sẵn lưng phần nước nguội.
Một số nơi ở Huế ngày nay pha theo tỷ lệ bảy phần nguội ba phần sôi; còn theo cách thức của Cao Bá Quát, tỷ lệ hai sôi tám nguội. Lúc này người ta dùng cây kẹp nhấc om lên trút nước chè vào bát, phải chú ý độ cao giữa om với bát, để làm sao tạo được bọt sủi như đầu tăm, búa kín mặt nước, càng nhiều bọt càng được coi là đẹp.
Uống chè bằng bát kiểu này, người ta vừa thổi bọt vừa nhai miếng kẹo hột điều, thường khi uống cạn xong, phải chép môi, thở phì, phát ra tiếng ừng ực mới khoái tận mây xanh. [...]
Chẳng trách những người sành trà kiểu cách đầu thế kỷ XX mới có câu chê những anh phàm phu “vai u thịt bắp mồ hôi dầu, lòng nách một nậm, trà tàu một hơi”. Nguyên ủy là do thói quen uống chè xanh bằng bát mà ra cả. Uống chè kiểu Huế thật là lối uống phù hợp với thời tiết nắng nôi miền Trung, đã uống là phải uống bằng bát to, uống một hơi, phần vì bát chè Huế sau khi pha không nóng hổi như chén chè ngoài Bắc, vả chăng cũng chỉ cần một bát là đủ. Vậy nên vua Minh Mạng mới nói “vào lúc giữa hè, uống một bát có thể đổ mồ hôi sảng khoái, cơ thể mát lạnh, đâu chỉ dừng lại ở việc hai nách cảm thấy nổi gió thổi đâu!”.