|
|
Trà có biết bao phẩm loại, mỗi phẩm là mỗi hương vị khác nhau, chỉ có thể tự mình thưởng thức cảm nhận, không thể thông qua mô tả của người khác. Ảnh minh họa. |
Trong trà thất du dương tiếng nhạc dịu dàng, trà sư chậm rãi chuyên nước trà tỏa khói thơm từ chén tống vào những chiếc chén quân, lần lượt chuyển cho từng người ngồi chung quanh. Sau một hồi im lặng, khẽ khàng cảm nhận sắc hương vị vận len lỏi qua các giác quan, người thưởng trà mới bắt đầu cất tiếng, chia sẻ những câu chuyện tinh thần, như một cách cân bằng với cuộc sống cơm áo gạo tiền đang tạm gác lại ngoài kia. Xưa nay, người bị dòng đời xô đẩy, chạy theo đời sống vật chất thì nhiều, người đứng ngoài trào lưu, biết chăm chút cho tinh thần thì ít.
Song xét cho công tâm, chẳng ai có thể sống chỉ dựa vào tinh thần, cũng chẳng ai mãi đeo đuổi vật chất. Việc gì làm quá đi đều mất cân bằng. Người sống thiên về tinh thần hay bị trách viển vông, hư ảo. Người coi nặng vật chất lại bị chê thực dụng, tầm thường. Thời đoạn và bối cảnh sống khiến trải nghiệm và nhận thức của người ta như vậy. Điều kiện khác đi, nhận thức cũng theo đó khác đi.
Chỉ e con người thường theo thói quen, bám riết lấy thế giới chủ quan để suy diễn thực tại rộng lớn xung quanh, như vậy tưởng thực tế, mà vẫn nằm trong ảo giác, khó thoát. Tinh thần càng cởi mở, khai phóng, càng tiếp nhận được nhiều sự lý thú hay ho. Thành ra trải nghiệm cá nhân chỉ trong những điều kiện tương đồng nhất định, mới có thể cảm thông, chia sẻ được cùng người khác. Nói không đúng thời, đúng cảnh, đúng người, tốt nhất không nên nói. Vô ngôn bởi vậy là nẻo tinh thần tự tại, mình biết với mình là đủ.
Triệu Châu, thời Đường, có vị cao tăng pháp hiệu Tông Thẩm (778-897), đời sau thường gọi thiền sư Triệu Châu, một đạo lưu trú tại Quan Âm viện. Bấy giờ, hai vị sư phương xa nghe tiếng, nhờ viện chủ giới thiệu tới tham thiền. Sau khi sửa y chỉnh tề, ngồi trước mặt thiền sư đảnh lễ, hai vị mới ướm hỏi về mùi vị của Thiền và giác ngộ.
Thiền sư im lặng hồi lâu, đoạn hỏi một trong hai người: “Thầy từng tới Triệu Châu chưa?” Vị sư kia đáp: “Tôi chưa từng tới”. Thiền sư lúc này thong thả tiếp lời: “Uống trà đi!” Một lát sau, hai vị sư nhắc lại câu hỏi ban đầu. Thiền sư lại chậm rãi hỏi người còn lại: “Thầy từng tới Triệu Châu chưa?” Vị sư này đáp: “Tôi từng tới rồi”. Sư lại ung dung nói: “Uống trà đi!”
Hai vị sư tới tham thiền những tưởng có được câu trả lời giúp khai ngộ, ngờ đâu toàn bị giục uống trà. Sau khi hai sư ra về, viện chủ bấy giờ hỏi lại thiền sư, tại sao một vị từng đến Triệu Châu và vị kia chưa từng đến, ngài đều giục uống trà? Thiền sư đoạn trả lời:
“Vào chùa chẳng nhẽ xin đồ cúng,
Chiếc bánh Vân Môn, trà Triệu Châu.”
Tuy Lý vương Miên Trinh
Bạn đọc hẳn đã đoán biết được câu trả lời của thiền sư rồi đấy. Mùi vị của Thiền hay giác ngộ là trải nghiệm cá nhân thuần túy, là sự vỡ lẽ từ thế giới tinh thần bên trong, ngôn từ không thể truyền tải được trọn vẹn. Hễ nói ra đã sai lạc từ đầu. Huống hồ lại thông qua sự tiếp nhận của người khác, dựa trên những cảm ngộ chủ quan, liệu bản ý có chắc được tri nhận vẹn nguyên? Vào thời Lý ở ta, cũng có người tới tham vấn thiền sư Viên Chiếu (999-1090), hỏi về khái niệm Chân Như. Sư Viên Chiếu bèn đáp: “Tặng quân thiên lý viễn, tiểu bãi nhất âu trà!” (Tặng người nghìn dặm thẳm xa, mỉm cười cầm một âu trà vậy thôi!) Ý niệm tương tự như thiền sư Triệu Châu vậy.
Thay vì cố gắng trả lời những câu hỏi càng nói càng huyền, chỉ bằng “vô ngôn”, lẳng lặng mời người ta uống trà, như một lời nhắn nhủ, hãy tự thong thả chiêm nghiệm. Bởi trà cũng có biết bao phẩm loại, mỗi phẩm là mỗi hương vị khác nhau, chỉ có thể tự mình thưởng thức cảm nhận, không thể thông qua mô tả của người khác. Công án Thiền Uống trà đi, hay trà Triệu Châu, trà Triệu lão, sau trở thành điển tích, mở đầu cho câu chuyện Thiền trà một vị.
Quãng thế kỷ X tới XIII, ở khắp khu vực Đông Á, trà đã gắn liền với đời sống tăng lữ, nhiều vị thiền sư kiêm trà sư tự tay trồng trọt sao sấy, đun pha rất thuần thục. Chính họ góp phần khiến tinh thần Thiền tông từng bước hòa quyện vào văn hóa trà, gắn kết việc thưởng thức nghệ thuật ẩm thực đơn thuần với đời sống tinh thần, tâm linh. Trà đạo Nhật Bản được du nhập, hình thành chính là trong giai đoạn này.
Còn ở Việt Nam, đời sống giản dị trong chùa bấy giờ, như vua Trần Nhân Tông mô tả: “Áo rách ôm mây sáng húp cháo, bình xưa dốc nguyệt tối đun trà”, hay như nếp sống nửa đời nửa đạo của vua Trần Thái Tông: “Mới khi xong bữa một âu trà”. Đủ thấy trà đã quen thuộc với chùa Việt thế nào.
Tô Thức, văn nhân sành trà có tiếng lẫy lừng thời Tống, kể lại, một lần đi vấn chùa Thọ Tinh, Tây Hồ, có vị sư Khiêm, tu hành ở chân núi Nam Bình nghe tin, liền vượt sang núi Bắc muốn tới điểm trà cho họ Tô. Tô Đông Pha rất ngờ nghệch với cách thức điểm trà của vị sư, nhất là phong thái ung dung điềm tĩnh. Kết quả, bát trà được sư điểm, hương vị vượt xa ngoài tưởng tượng của Tô Đông Pha. Tô mới hỏi kinh nghiệm của sư Khiêm. Sư nói: “Tâm tôi nắm bắt được phép điểm trà, rồi thể hiện ra tay, không thể dùng lời truyền cho người học được.” Đoạn, Tô Thức viết bài thơ ca ngợi: “Đạo nhân sớm rời núi Nam Bình, điểm trà ra tay tam muội thức [...] Ta đây muốn viết Tiếp Trà kinh, khiến vị sư Khiêm danh bất tử”.