|
| Cảnh những người nông dân thu hái trà, khiến Alexandre de Rhodes liên tưởng tới những nông trại trồng nho ở phương Tây. Ảnh minh họa: C.F. |
Tài liệu tham khảo đáng tin đầu tiên về trà là của Kiều-lung [1] ở thế kỷ IV, người không chỉ mô tả loại cây này mà còn cả quá trình chế biến trà, trong đó 15 câu sau đây là bản dịch tự do và cô đọng: “Trên lửa nhỏ đặt một ấm trà (Nguyên bản dùng từ 'tripod', tuy nhiên người dịch nghĩ rằng đây có thể là lỗi đánh máy của người làm lại dự án sách này), có màu sắc và kết cấu cho thấy đã được sử dụng lâu ngày và đổ đầy nước tuyết sạch.
Đun sôi đến mức đủ để tôm chuyển sang màu đỏ, rồi cho lá trà vào. Hãm cho đến khi hơi nước bốc lên thành đám mây và chỉ có một lớp sương mỏng nổi trên bề mặt. Sau đó hãy thoải mái thưởng thức thứ đồ uống quý giá đã được pha chế kỹ càng, nó sẽ xua tan năm nỗi muộn phiền. Bạn có thể nếm và cảm nhận, nhưng không thể mô tả sự thư thái do thứ đồ uống đó tạo ra”.
Nó lại được đề cập đến bởi Lục Vũ [2], một học giả Trung Quốc sống vào thời nhà Đường năm 618, người đã hết lòng ca ngợi nó, cho rằng “Nó làm dịu tinh thần, điều hòa tâm trí, xua tan sự chán chường và mệt mỏi, đánh thức suy nghĩ và làm sáng tỏ các khả năng nhận thức,” và theo Kiang-moo [3], một sách toát yếu lịch sử, tiền thuế đã được Hoàng đế Đường Đức Tông áp dụng đối với trà ngay từ năm 782 và tiếp tục cho đến ngày nay.
McPherson, trong cuốn Lịch sử thương mại châu Âu với Ấn Độ, nói rằng trà được Solieman, một thương gia người Ả Rập đã ghi chép lại trong chuyến đi của mình đến phương Đông năm 850, nhắc đến như một loại đồ uống thông thường của người Trung Quốc.
Tuy nhiên, vào thế kỷ IX, thương gia người Ả Rập Abuzeid-el-Hazen ghi lại cho thấy trà được người Trung Quốc sử dụng rộng rãi, thuế đánh vào trà là một nguồn thu đáng kể vào thời điểm đó, và điều này được Renaudot trích dẫn trong bản dịch cuốn sách của ông.
Ngoài ra còn có bằng chứng độc lập được cung cấp bởi hai thương nhân Ả Rập khác trong câu chuyện kể về những chuyến lang thang của họ trong nửa sau thế kỷ IX, thừa nhận những tuyên bố của họ là đáng tin cậy về việc sử dụng trà nói chung làm đồ uống của người Trung Quốc vào thời kỳ đó.
Những thương nhân Moorish [4] dường như đã du nhập trà đến các quốc gia Hồi giáo vào đầu thế kỷ thứ X, và những thương nhân khác ở Trung Quốc vào thế kỷ XVII đã phóng đại những ưu điểm của nó một cách khoa trương nhất, dường như nó đã được sử dụng rất phổ biến trên khắp châu Á vào thời điểm đó.
Cha de Rhodes [5], một nhà truyền giáo Dòng Tên, người đến Trung Quốc vào năm 1633, nói rằng “việc sử dụng trà là phổ biến khắp phương Đông, và tôi nhận thấy nó cũng bắt đầu được biết đến ở châu Âu. Trên toàn thế giới, nó chỉ được tìm thấy ở hai tỉnh của Trung Quốc, nơi việc thu hái nó thu hút đông đảo dân cư như chúng ta thu hoạch nho”.
Ông nói thêm rằng, với ông ấy, nó là một phương pháp chữa trị cơn đau đầu tức thời, và khi buộc phải ngồi suốt đêm để nghe xưng tội, việc sử dụng nó đã giúp ông khỏi buồn ngủ và mệt mỏi.
Adam Olearius [6], mô tả chuyến đi của một đại sứ đến Ba Tư vào năm 1631, ông nói về người Ba Tư: “Họ là những người hay lui tới các quán tên là Tzai Chattai, nơi họ uống Thea hoặc Cha, những món mà người Tartar [7] mang từ Trung Quốc đến và gán cho nó những phẩm chất xa hoa, và cho rằng chỉ có nó mới giúp con người khỏe mạnh hoàn hảo, và chắc chắn sẽ chiêu đãi loại thức uống này cho tất cả những ai đến thăm họ bất cứ lúc nào”.
Những biểu hiện mạnh mẽ về việc sử dụng trà này, diễn ra vào khoảng thời gian không muộn hơn năm 1640, đủ để chứng minh rằng các tài liệu phổ biến hiện nay cho rằng việc du nhập loại đồ uống đó đến châu Âu, đặc biệt là lục địa là quá muộn.
[1] Nhân vật này theo tác giả là hoàng đế sống ở thế kỷ thứ IV. Tuy nhiên trong số các hoàng đế Trung Hoa vào thời gian đó không có ai có tên cùng hoặc gần với cách phát âm mà tác giả đã đề cập. Tuy nhiên triều đại Lưu Tống (tiếng Trung: 劉宋; bính âm: Líusòng; 420 - 479), triều đại đầu tiên trong số bốn Nam triều ở Trung Quốc thời Nam-Bắc triều, là có phát âm gần với Kieu-lung nhất. Triều đại này có vị hoàng đế đầu tiên là Lưu Dụ (363 - 422).
[2] Lục Vũ (733 - 804) là học giả uyên bác đời nhà Đường được biết với những đóng góp nổi bật nghiên cứu về trà đạo. Tiêu biểu như tác phẩm Trà kinh là bộ sách lý luận trà học chuyên môn đầu tiên trên thế giới. Lục Vũ được người đời sau tôn lên là Trà thánh, đó là một trong mười vị thánh trong lịch sử Trung Quốc.
[3]. Không tra ra được tên nhân vật này.
[4]. Là những người Hồi giáo Bắc Phi cai trị Tây Ban Nha từ 711 đến 1492.
[5] Alexandre de Rhodes (15/3/1593 – 5/11/1660) hay gọi là Cha Đắc Lộ, là một nhà truyền giáo Dòng Tên và một nhà ngôn ngữ học người Avignon. Ông là một trong những giáo sĩ đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá Công giáo tại Việt Nam và được cho là cha đẻ của chữ Quốc ngữ.
[6] Adam Olearius (tên khai sinh là Adam Ölschläger hoặc Oehlschlaeger, 24/9/1599 – 22/2/1671) là một học giả, nhà toán học, nhà địa lý và thủ thư người Đức. Ông trở thành thư ký cho đại sứ do Frederick III, Công tước xứ Holstein-Gottorp, cử đến Shah xứ Safavid (Iran), và xuất bản hai cuốn sách về các sự kiện mà ông quan sát được trong suốt chuyến đi của mình.
[7] Tác-ta hay Thát Đát là tên gọi chung các bộ lạc hỗn hợp Đột Quyết, Mông Cổ và Thanh Tạng sống rải rác ở miền thảo nguyên Bắc-Trung Á trước khi Đế quốc Mông Cổ xuất hiện, họ nói tiếng Tatar.