|
Xa xưa, người Ấn Độ đã nhầm lá trà với lá trầu không. Ảnh minh họa:T.C. |
Trà chưa từng được người Hy Lạp hay La Mã biết đến dưới bất kỳ hình thức nào; và việc nó hoặc sản phẩm từ nó không được đề cập đến trong tiếng Phạn cho thấy rằng, ở Ấn Độ người ta biết đến trà khá muộn.
Nhưng việc loại cây này và công dụng của nó, không chỉ như một loại đồ uống mang lại sự dễ chịu và sảng khoái, mà còn như một mặt hàng đáng giá ở nhiều quốc gia, hẳn đã được người Trung Quốc biết đến ngay từ thế kỷ I của kỷ nguyên Thiên Chúa giáo. Đoạn trích từ tác phẩm Hải trình của biển Erythraean [1] có thể chứng minh điều đó.
Tác giả, được cho là Arrian [2], sau khi mô tả “một thành phố tên là Thinae [3]”, tiếp tục thuật lại chuyến hành trình buôn bán hàng năm đến vùng lân cận của “một tộc người nào đó tên là Sesataei, có vóc dáng thấp bé, khuôn mặt rộng và mũi tẹt”, rõ ràng là người Trung Quốc, đã miêu tả thêm “những đồ vật họ mang theo để vận chuyển có bề ngoài giống lá nho, được đựng trong các túi vải đeo phía sau khi trở về đất nước của họ.
Từ những túi này, người Thinae chọn ra một bó, gọi là petros, từ đó họ tuốt bỏ sợi và thân cây; trải lá ra, nắm chặt và vo thành dạng hình cầu rồi luồn sợi qua chúng, dưới hình thức đó chúng có tên là Malabathrum [4]
[1] Nguyên tác có tên gốc Periplus of the Erythraean Sea với periplus là một văn bản viết tay liệt kê các cảng và địa danh ven biển theo thứ tự và khoảng cách gần đúng giữa các cảng mà thuyền trưởng của một con tàu có thể tìm thấy dọc theo bờ biển. Biển Erythraean (nghĩa đen là ‘Biển Đỏ’) là một tên gọi hàng hải trước đây luôn bao gồm Vịnh Aden và đôi khi là các vùng biển khác giữa Yemen và Sừng châu Phi.
Ban đầu là một tên gọi địa lý của Hy Lạp cổ đại, nó được sử dụng trên khắp châu Âu cho đến thế kỷ 18 - 19. Đôi khi tên này thường được mở rộng ra ngoài Vịnh Aden để bao gồm Biển Đỏ, Biển Ả Rập, Vịnh Ba Tư và Ấn Độ Dương ngày nay như một khu vực hàng hải duy nhất.
[2]. Arrian xứ Nicomedia (khoảng 86/89 – 146/160 sau Công nguyên) là một nhà sử học, công chức, chỉ huy quân sự và triết gia người Hy Lạp thời La Mã.
[3] Thinae, hoặc Thina, là thủ đô của Sinae (Trung Quốc ngày nay), nơi diễn ra hoạt động thương mại lớn về lụa và hàng len.
[4] “Malabathrum” là từ Hy Lạp hóa của từ tiếng Phạn tamālapattram, nghĩa đen là “lá cây sẫm màu”. Tuy nhiên từ thời Trung Cổ, từ này chỉ lá khô của cây thuộc họ long não chi Cinnamomum, có tác dụng chữa bệnh.
[5] Nguyên tác là Historical Account of China tuy nhiên người dịch chỉ tìm thấy cuốn An Historical And Descriptive Account Of China 3 tập của Hugh Murray, John Crawfurd, Peter Gordon xuất bản cùng năm 1836.
[6] Arakan là tên địa lý lịch sử của bang Rakhine, Myanmar (trước đây là Miến Điện). Khu vực này được gọi là Arakan trong nhiều thế kỷ cho đến khi chính quyền quân sự Miến Điện đổi tên vào năm 1989. Người dân trong khu vực này được gọi là người Arakan.
[7] Horace (tên đầy đủ bằng Latin: Quintus Horatius Flaccus. 8 tháng 12 năm 65 tr. CN – 27 tháng 11 năm 8 tr. CN) – là nhà thơ của thế kỷ vàng trong văn học La Mã. Ông sáng tác vào thời Nội chiến và những thập niên đầu của chính quyền Octavian Augustus.
[8] Gaius Plinius Secundus (23 - 79), được biết đến nhiều hơn với tên Pliny cha, Pliny cậu, Pliny già, Pliny lớn, là một tác giả, nhà tự nhiên học, và triết học tự nhiên La Mã, cũng như các chỉ huy hải quân và quân đội của Đế chế La Mã giai đoạn đầu, và bạn riêng của hoàng đế Vespasian.
[9] Pedanius Dioscorides (khoảng 40 - 90), “cha đẻ của dược lý học”, là một bác sĩ, dược sĩ, nhà thực vật học người Hy Lạp và là tác giả cuốn De materia medica, một bộ bách khoa toàn thư Hy Lạp gồm 5 tập về thuốc thảo dược và các dược chất liên quan (dược điển), đã được đọc rộng rãi trong hơn 1.500 năm. Trong gần hai thiên niên kỷ, Dioscorides được coi là tác giả nổi bật nhất về thực vật và thuốc thực vật.