Trong vô thức, kẻ Ái kỷ Quyến rũ cũng đang tìm đường trốn chạy khỏi nỗi hổ thẹn cốt lõi - một cảm giác mơ hồ nhưng day dứt rằng sự phát triển bản thân đã đi chệch hướng với niềm tin âm ỉ rằng có điều gì đó sai lệch bên trong con người mình.
Chắc chắn, việc mất mẹ khi mới sáu tuổi và bị cha mình bỏ mặc trong suốt nhiều năm không thể nào là chuyện bình thường. Dù có vẻ hơi khó hiểu, nhưng tôi vẫn coi những chấn thương tâm lý xuất phát từ sự mất mát và bi kịch như vậy là một dạng của nỗi hổ thẹn.
Trong cuốn sách The Many Faces of Shame (tạm dịch: Muôn mặt của nỗi hổ thẹn) xoay quanh nội dung về nỗi hổ thẹn và niềm tự hào, Donald Nathanson đã định nghĩa “nỗi hổ thẹn là một cảm xúc xuất phát từ những kì vọng không được đáp ứng, khi một cảm xúc tích cực (như cảm giác hứng thú hoặc thỏa mãn) bị gián đoạn hoặc cắt đứt”.
Nathanson viết chủ yếu cho giới chuyên môn và tác phẩm của ông thấm đẫm thứ ngôn ngữ nhiều khi thật khó hình dung của lý thuyết cảm xúc. Để hiểu hơn về định nghĩa này, rằng tại sao nỗi hổ thẹn lại được miêu tả là trạng thái khi cảm xúc tích cực bị gián đoạn, hãy đọc đoạn văn miêu tả dưới đây về Anna Karenina - nhân vật trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nga Lev Tolstoy:
Kitty và Vronsky đang cùng khiêu vũ tại một vũ hội. Kitty tin rằng mình đang yêu Vronsky, và đến tận lúc này, cô vẫn nghĩ rằng chàng cũng dành cho mình tình cảm nồng thắm: “Kitty nhìn thẳng vào gương mặt đang kề sát mặt mình của chàng.
Rất lâu sau, chắc phải đến vài năm, vẻ mặt hờ hững, vô cảm của chàng trước cái nhìn đầy yêu thương đó vẫn khiến cô đau đớn và hổ thẹn đến tan nát cõi lòng.” Có thể nói cái nhìn đầy yêu thương dành cho Vronsky mà không được đáp lại đã ghi hằn trong lòng Kitty một cảm giác hổ thẹn suốt một thời gian dài sau đó.
Ngay từ lần đầu tiên đọc đoạn văn này, tôi đã hình dung ra bản chất của nỗi hổ thẹn cốt lõi giống như một tình yêu không được đáp lời. Có lẽ bạn cũng từng trải qua cảm giác này trước đây khi đem lòng yêu một ai đó, thổ lộ tình cảm của bản thân rồi nhận ra rằng đối phương không có cảm xúc tương tự với mình. Có thể bạn cũng cảm nhận được nỗi xấu hổ đó khi phải nghe câu nói: “Em/anh chỉ muốn chúng mình là bạn.” Bạn có thể sẽ muốn giữ kín bí mật này vì sợ rằng chỉ nhận lại sự thương hại, hoặc thậm chí tệ hơn là trở thành trò cười cho người khác.
|
| Những nỗi hổ thẹn tinh vi thời thơ ấu là cơ chế tạo nên tính cách ái kỷ quyến rũ. Ảnh: Crossroads Law. |
Việc nảy sinh cảm xúc yêu thích một ai khác lại không được đáp lời là một trải nghiệm vô cùng tồi tệ và đau khổ. Một đoạn video khá nổi tiếng Still Face Experiment (Thí nghiệm vô cảm) đã minh họa rõ rệt cảm giác đau đớn này. Nếu bạn chưa từng xem video này, thì tôi khuyên bạn nên làm điều đó ngay bây giờ, bạn có thể tìm thấy nó trên YouTube.
Giống như khi Kitty trao ánh nhìn đầy yêu thương cho Vronsky rồi chỉ nhận lại thái độ thờ ơ và lãnh đạm, bạn cũng có thể quan sát những đứa trẻ khi người mẹ không hưởng ứng nụ cười và những cử chỉ của chúng, chúng cảm thấy vô cùng thất vọng và buồn bã. Dựa trên lý thuyết xúc cảm thì:
Khi cảm xúc tích cực của đứa bé (Nathanson gọi là sự hứng thú, hứng khởi hoặc niềm vui, sự vui thích) bị gián đoạn do phản ứng lãnh đạm, không tương xứng của người mẹ, kết quả là ở đứa trẻ sẽ nảy sinh cảm xúc xấu hổ - nhục nhã. Có thể bạn thấy rằng đứa trẻ đang thất vọng, nhưng hãy nhớ đằng sau mọi nỗi thất vọng đều là một kì vọng không được đáp ứng, như khi “tôi cảm thấy thất vọng vì không thể đọc tài liệu này một cách dễ dàng như mong đợi”.
Cảm xúc của đứa trẻ đó khi diễn tả thành lời chắc hẳn sẽ như sau: Tại sao mẹ không phản ứng gì khi thấy mình cười nhỉ? Buồn quá đi mất thôi. Có phải tại mình đã làm gì sai không? Sao mẹ lại không nhìn mình một cách đầy vui thích như thường ngày?
Con trẻ thường tự đổ lỗi lên bản thân khi cha mẹ chúng không làm tròn bổn phận của mình, như thể nguyên nhân chúng không được yêu thương là do chính chúng đã lỡ phạm phải một lỗi lầm nào đó, hoặc do chúng không đáng được yêu thương. “Mẹ nào chẳng yêu con, dĩ nhiên rồi! Vì thế, nếu mẹ không yêu thương mình thì đấy là lỗi của mình.”
Con trẻ cũng thường tự đổ lỗi lên bản thân khi cha hoặc mẹ của chúng qua đời, mặc dù niềm tin này chẳng có bất cứ cơ sở lập luận xác đáng nào cả. Chúng có thể cảm thấy rằng cha mẹ mình mất là do mình đã rất hư và không xứng được có cha mẹ nữa.