
Bộ Chính trị vừa đặt ra yêu cầu quyết liệt trong sắp xếp đại học. Theo đó, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công lập theo hướng chuyển trường đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ GD&ĐT hoặc địa phương quản lý; sáp nhập, hợp nhất các trường trên cùng địa bàn, trừ các trường thuộc lĩnh vực đặc thù.
Ngoài ra, việc sắp xếp đảm bảo giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở đại học công lập, hoàn thành trước ngày 1/4/2027.
Theo thống kê, hiện cả nước có khoảng 170 cơ sở giáo dục đại học công lập với 108 đầu mối. Trong đó, 26 trường trực thuộc địa phương, hơn 40 trường trực thuộc Bộ GD&ĐT, còn lại trực thuộc nhiều bộ, ngành.
Không đơn thuần là giảm số lượng trường
Với số lượng đầu mối và thực tế vận hành như hiện tại, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Uỷ viên Uỷ ban Văn hoá, Xã hội của Quốc hội, nhận định chủ trương sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công lập là cần thiết, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia và tạo đột phá trong phát triển giáo dục đại học.
Việc tổ chức lại hệ thống, trước hết, sẽ tạo điều kiện quy hoạch lại mạng lưới các trường theo nhu cầu phát triển của quốc gia, vùng và địa phương thay vì duy trì mạng lưới chủ yếu dựa trên lịch sử hình thành hoặc cơ chế quản lý hành chính.
Bên cạnh đó, việc sắp xếp hợp lý sẽ giúp tập trung và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực.
Đây cũng là cơ hội để nâng cao chất lượng quản trị đại học. Bởi lẽ, khi sáp nhập, các trường sẽ tái cấu trúc bên trong, xóa bỏ tầng trung gian, phân định rõ trách nhiệm, tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và thiết lập hệ thống quản trị minh bạch.
Ngoài ra, theo bà Nga, việc hình thành các cơ sở có quy mô phù hợp sẽ tạo điều kiện phát triển đào tạo, nghiên cứu liên ngành và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, đại biểu Quốc hội cho rằng giảm đầu mối không phải là mục tiêu cuối cùng, mà phải là nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả nghiên cứu, khả năng phục vụ cộng đồng, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học.
Bà Nga lưu ý không nên mặc nhiên xem trường quy mô nhỏ là kém hiệu quả, cũng không thể cho rằng cứ sáp nhập thành trường lớn thì chất lượng sẽ tự nâng lên. Những cơ sở đào tạo chuyên sâu có uy tín học thuật và truyền thống riêng vẫn cần được bảo vệ, kể cả khi quy mô không lớn.
“Nói cách khác, không nên quyết định sáp nhập chỉ vì hai trường cùng nằm trên một địa bàn, cùng thuộc một cơ quan chủ quản hoặc có quy mô tuyển sinh chưa lớn”, bà Nga nói.
|
| Bộ Chính trị vừa đặt ra yêu cầu quyết liệt trong sắp xếp đại học công lập. Ảnh: Ngọc Bích (Có sự hỗ trợ của AI). |
Mô hình nào phù hợp?
Đồng thuận với chủ trương sáp nhập, hợp nhất các trường trên cùng địa bàn, PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng trường Đại học Công Thương TP.HCM, đề xuất mô hình “đại học đa thành viên” hoặc “trường trong đại học” nhằm tránh nguy cơ sáp nhập cơ học.
Cụ thể, theo mô hình này, các trường đơn ngành trên cùng địa bàn sẽ hợp nhất thành các khối trường hoặc phân hiệu trực thuộc một cơ sở đại học, dùng chung bộ máy quản trị.
Về mặt quản lý khoa học, ông Hoàn cho rằng mô hình này giúp tích hợp toàn diện hệ thống quản trị, tài chính và cơ sở dữ liệu số trên một nền tảng thống nhất, xóa bỏ triệt để tư duy bao cấp và giảm bớt các ban bệ hành chính trung gian.
Tuy nhiên, các trường thành viên vẫn được trao quyền tự chủ học thuật cao nhằm bảo tồn nguyên vẹn bản sắc văn hóa, chương trình đào tạo mũi nhọn và thương hiệu truyền thống sẵn có.
Sự kết hợp này cũng thúc đẩy chia sẻ sâu tài nguyên giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, đồng thời tạo không gian liên ngành mạnh mẽ để mở ra các ngành đào tạo mới đáp ứng thị trường.
“Đây là mô hình dịch chuyển thông minh từ phép cộng hành chính sang sự cộng hưởng nguồn lực, giúp nâng cao nội lực cạnh tranh quốc tế mà không gây xáo trộn hệ thống”, ông Hoàn nhận định.
Trong khi đó, TS Lê Viết Khuyến, nguyên Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT), đề xuất một số mô hình phù hợp với Việt Nam. Cụ thể:
- Mô hình hợp nhất toàn phần: Các trường bị xóa tên, sáp nhập vào một đại học mới với tên gọi hoàn toàn khác. Ưu điểm của mô hình này là có thể thiết kế lại cơ chế quản trị hiện đại, nhưng nhược điểm là dễ gây phản ứng, mất bản sắc.
- Mô hình liên kết kiểu liên hiệp: Các trường vẫn giữ tên riêng, trở thành thành viên của một đại học lớn (như đại học quốc gia hiện nay). Mô hình này bảo tồn được bản sắc từng trường, dễ chấp nhận về mặt xã hội nhưng có nguy cơ phát sinh cục bộ, thiếu thống nhất trong quản trị.
- Mô hình lai ghép: Một số trường sáp nhập toàn phần, một số liên kết theo kiểu liên hiệp. Đây là cách linh hoạt, giảm sốc nhưng quản trị sẽ phức tạp, dễ gây chồng chéo.
- Mô hình cụm trường liên kết: Áp dụng cho các cơ sở giáo dục riêng lẻ (có thể khác bậc đào tạo, khác đẳng cấp). Các trường cùng tuân theo một “luật chơi” chung để hình thành cụm liên kết. Theo ông Khuyến, mô hình này đã được khuyến nghị từ năm 1993 nhưng ít trường hưởng ứng.
| |
| Nhà điều hành Đại học Quốc gia TP.HCM. Ảnh: Quỳnh Danh. |
Chung trăn trở, bà Việt Nga cho rằng việc sắp xếp chỉ thực sự hiệu quả khi trả lời được câu hỏi cốt lõi: Sau sáp nhập, cơ sở mới sẽ mạnh hơn ở điểm nào? Chất lượng đào tạo có được nâng lên? Đội ngũ giảng viên và năng lực nghiên cứu có được phát huy? Người học có được hưởng điều kiện học tập tốt hơn? Ngân sách và tài sản công có được sử dụng hiệu quả? Cơ sở mới có đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực của vùng và đất nước?
Căn cứ trên chuẩn cơ sở giáo dục đại học do Bộ GD&ĐT ban hành, bà Nga nhận định cần xem xét đồng thời một số yếu tố khi sắp xếp. Trước hết là mức độ đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục đại học và kết quả đầu ra. Tiếp theo là sứ mạng và tính đặc thù.
Một yếu tố khác là tính bổ trợ giữa các cơ sở dự kiến sáp nhập. “Phương án tốt phải tạo ra giá trị cộng hưởng, chứ không chỉ cộng dồn quy mô”, bà Nga nói.
Theo đó, hai trường có ngành nghề, đội ngũ, cơ sở vật chất và định hướng phát triển bổ trợ cho nhau sẽ có khả năng hình thành một cơ sở mạnh hơn. Ngược lại, nếu chức năng, văn hóa tổ chức và mô hình quản trị quá khác biệt, việc hợp nhất có thể tạo ra một bộ máy lớn nhưng thiếu sự liên kết bên trong.
Đồng thời, bà Nga nhận định phải đánh giá tác động đối với người học, giảng viên và xã hội. Mọi phương án cần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của sinh viên; không làm gián đoạn chương trình đào tạo; bảo đảm giá trị văn bằng, học phí, học bổng, chế độ chính sách và điều kiện học tập. Việc bố trí đội ngũ, xử lý tài chính, tài sản, đất đai, các hợp đồng và nghĩa vụ pháp lý cũng phải có lộ trình rõ ràng, minh bạch.
Tuy nhiên, việc sắp xếp tổ chức mới chỉ là bước đầu. Bà Nga nhấn mạnh việc xây dựng đề án phát triển cơ sở sau sắp xếp, trong đó xác định rõ mô hình quản trị, chiến lược ngành nghề, phương án sử dụng đội ngũ, cơ chế tài chính, quản lý tài sản và các chỉ tiêu chất lượng phải đạt được sau một khoảng thời gian nhất định.
“Một phương án sáp nhập đúng phải thuyết phục được cả về học thuật, quản trị, kinh tế và xã hội. Sáp nhập không phải để trường lớn hơn về tên gọi, mà phải để năng lực đào tạo, nghiên cứu và phục vụ xã hội mạnh hơn”, bà Nga chia sẻ.
Cuốn sách Giải mã trẻ cá biệt - Hiểu, Hợp tác, Hành động của tiến sĩ Ross W. Greene mở ra một góc nhìn toàn diện và nhân văn hơn về những trẻ bị gắn mác "cá biệt". Thay vì trừng phạt, chúng ta có thể giúp các em rèn luyện những kỹ năng thiếu hụt để biến đổi hành vi.