|
| Cây cà phê có rất nhiều giống bản địa, được phân bố ở các vùng địa lý khác nhau. Ảnh minh họa: C.W. |
Loại thực phẩm rất quan trọng và giá trị này được cư dân Ethiopia thuở xưa - những người đầu tiên phát hiện và sử dụng đặc tính hữu ích của cà phê - gọi là Bun, tức “màu nâu” hay “đã rang lên”.
Ở Ả Rập, nó mang tên Kawah, nghĩa là “sức mạnh” hay “sinh lực”, khi pha chế thành đồ uống thì gọi là Quahouch. Còn với người Thổ Nhĩ Kỳ, hạt cà phê được gọi là Chaube, còn cà phê dạng lỏng là Kahve. Với người Ba Tư, nó là Karweh, với người bản địa ở quần đảo Mã Lai, nó lại là Kopi, và cuối cùng, nó là Kaffa hay Caffie đối với cư dân khu vực Narca miền đông nam Abyssinia.
Tại đây, cây cà phê mọc dại um tùm, tới tận ngày nay vẫn vậy, rồi cũng chính từ đó mà Linnaeus [1] và những cộng sự đã chọn Coffea làm tên khoa học cho loài cây này.
Chi Coffea được các nhà thực vật học chia ra khoảng sáu mươi loài, trong đó mười lăm loài bắt nguồn từ châu Phi, bảy loài từ châu Á và khoảng hai mươi hai loài từ châu Mỹ. Tuy nhiên, có nhiều lý do để cho rằng dù gọi là "loài" nhưng đa số chỉ là những giống khác nhau thuộc về một "chi" duy nhất do điều kiện đất đai, khí hậu và trồng trọt khác biệt.
Trong ngành thực vật học, cà phê được phân loại là một loài thuộc lớp Pentandria và họ Rubiaceae theo Linnaeus nhưng theo những người khác nó thuộc họ Cinchonacece - một họ cây bao gồm nhiều loài cây bụi nhiệt đới cho ra quả mọng.
Cây cà phê là một loài cây bụi thường xanh. Trong điều kiện tự nhiên, nó sẽ phát triển tới độ cao từ 5,5 - 6 m, hình dạng thẳng đứng, thon nhỏ, thân rất thẳng và trên phần lớn chiều dài thân không có cành cây, chỉ ở ngọn mới chẻ ra vài cành rủ xuống, ít mà dài. Cây cà phê có hệ thống rễ tơ chùm mỏng mảnh ăn sâu dưới lòng đất và một rễ cọc chính giữ vai trò quan trọng cốt yếu.
Thế nhưng, khi được nuôi trồng, nó phát triển thành dạng cây bụi thấp, mọc dày và có hệ thống, chiều cao trung bình chỉ đạt khoảng 1,2 - 1,8 m do sự tăng trưởng chiều cao của nó bị kìm hãm bởi lưỡi dao cắt tỉa của người vun trồng, lại còn bị uốn bằng biện pháp cắt và tỉa ngọn thường xuyên để tạo thành hình chóp nhằm mục đích tăng sản lượng và cải thiện chất lượng sản phẩm cũng như tạo điều kiện để thu hoạch dễ dàng hơn.
Các cành chĩa ngang ra, đơn giản và đối xứng, mọc đều từ mặt đất trở lên, nhưng càng lên trên ngọn thì lại càng rũ xuống, cành hình trụ, dẻo dai, mọc thưa, tỏa rộng ra và chúc xuống như cành của cây táo, nhìn chung cực kỳ đẹp mắt.
Lá dài từ 10 - 15 cm, khi phát triển hết cỡ, sẽ rộng từ 5 - 7,5 cm, có hình trứng thuôn dài mũi nhọn, trơn láng, mặt trên màu xanh sẫm bóng loáng và mặt dưới nhạt hơn, kết cấu chắc và dai, rất giống nguyệt quế Bồ Đào Nha, mọc trên cành được ba năm, có đặc tính tạo cảm giác khỏe khoắn và hưng phấn nhẹ.
Hoa cà phê mọc thành cụm dày ở sát các nách lá, có hình phễu, hoa nhỏ nhưng nhiều, đài hoa có năm cánh hình ống, năm nhị hoa và một vòi nhụy duy nhất chẻ làm hai.
Hoa trắng tinh, có mùi thơm ngát nồng nàn, gần giống với hoa lài. Khi hoa nở, cây phê trông cực kỳ đẹp, tuy vậy, hoa rất chóng tàn và chỉ tồn tại một thời gian ngắn, nhưng nhanh chóng được tiếp nối bởi trái cà phê, hoa thường nở hai hoặc thỉnh thoảng là ba lượt rồi tất cả các nụ sẽ nở rộ, sau một hai ngày là chúng sẽ từ từ ngả sang màu nâu rồi tàn đi. Quá trình này diễn ra càng từ từ và chậm chạp thì càng tốt cho vụ thu hoạch, vốn luôn được ước tính dựa vào số lượng hoa.
Trái cà phê nhanh chóng theo sau mà mọc ra ở nách lá. Đây là loại quả mọng chắc thịt, ban đầu có màu xanh lục và chạm vào thấy khá cứng, rồi dần chuyển sang sắc vàng khi chín dần dưới ánh nắng và thẫm dần nhưng không đồng đều, sắc đỏ tươi hay đỏ sậm sẽ lan ra khắp bề mặt. Giai đoạn này, trái có kích cỡ và hình dạng giống quả cherry nhỏ.
Khi trưởng thành, trái cà phê khoác lên màu đỏ thẫm hoặc màu đen tím đậm bóng loáng với lớp vỏ láng mịn. Ở cả hai trạng thái nở hoa và ra trái, cây cà phê có sắc hương tươi đẹp và đa dạng chẳng nơi đâu sánh bằng.
Là cây thường xanh, tán lá cà phê lúc nào cũng xanh tươi và vào mùa thu, hoa nở ra điểm xuyết giữa những chiếc lá xanh thẫm tựa như bông tuyết, tưởng chừng như nở rộ mãi không ngừng.
Cây tiếp tục cho ra trái trong khi hoa dần trưởng thành và chẳng có gì phi thường hay ấn tượng hơn năng lực sản sinh của nó, vì mùa nào ta cũng thấy hoa lá và trái chín trên cùng một cây vào cùng một thời điểm và có thể hái trái bất cứ lúc nào nhưng thường chỉ có hai vụ thu hoạch định kỳ trong một năm.
[1] Carl Linnaeus (23/5/1707-10/1/1778): một nhà thực vật học, một bác sĩ kiêm nhà động vật học người Thụy Điển, người đã đặt nền móng cho hệ thống danh pháp hiện đại.