Nhưng đầu tháng 3 năm 1979, nhanh hơn dự đoán, các nhà xuất khẩu Iran bắt đầu trở lại thị trường, ở mức thấp hơn nhiều so với trước khi Shah sụp đổ. Phản ánh sự hồi phục của nguồn cung, giá chợ đen bắt đầu giảm. Đây là thời điểm mà một số lệnh bán hàng đã được hồi phục trở lại.
Đầu tháng 3, các nước thành viên của Cơ quan năng lượng quốc tế hứa giảm nhu cầu xuống 5% để ổn định thị trường. Nhưng cuộc đua trên thị trường nay đã có động lực của riêng nó. Ai có thể tự tin rằng dầu Iran sẽ duy trì được sự ổn định. Mặc dầu Khomeini đã kiểm soát được ngành công nghiệp dầu, các cánh đồng dầu ở Iran, bị điều khiển bởi phe cánh tả - “hội đồng 60”, do các công nhân thành lập, hoạt động như một chính phủ độc lập, nắm ý chí của các quan chức và nhân viên trong ngành.
Hơn thế nữa, các nước OPEC khác bắt đầu thông báo sự sụt giảm sản lượng. Với sự tăng giá dầu, sẽ giá trị hơn nếu giữ dầu ở dưới đất và bán sau?
|
| Một mỏ dầu ở Trung Đông. Ảnh: Reuters. |
Cuối tháng 3, các nước OPEC họp. Giá chợ đen đã tăng 30%, sản lượng tăng 60%. OPEC quyết định các thành viên của nó có thể thêm bất kỳ phụ phí nào vào giá để “công bằng theo cách riêng của họ”. Bất kể là gì, Yamani cho phép, là “tự do cho tất cả”. Các nhà xuất khẩu từ bỏ bất kỳ cơ cấu giá chính thức nào. Họ sẽ thu thêm bất cứ thứ gì mà thị trường có thể chịu được.
Và bây giờ có hai trò chơi trên thị trường dầu thế giới. Một là “nhảy phốc” - các nhà sản xuất cạnh tranh nhau để tăng giá. Trò khác là “trườn bò” các nhà buôn cạnh tranh nguồn cung cấp. Những người mua lo lắng, các công ty đã bị cắt nguồn cung, các nhà máy lọc dầu, các chính phủ dẫm lên nhau để tìm nguồn cung. Nhưng cuộc đua này không thể làm xuất hiện thêm nhà cung cấp nào mới, tất cả đều khiến cuộc cạnh tranh thêm khốc liệt, làm giá leo thang.
Nhà điều phối của Shell cho biết: “không ai điều khiển cái gì cả, bạn chỉ giành lấy nó. Ở mọi mức độ, bạn cảm thấy bạn phải mua ngay, với bất cứ giá nào, nó cũng tốt nếu so sánh với ngày mai. Bạn phải nói “vâng” hoặc bạn sẽ mất. Đó là tâm lý của người mua. Sự hoảng sợ có thể xuất phát từ cách nghĩ, ngày mai có thể tệ hơn.
Chỉ một nhà xuất khẩu đứng ngoài việc tăng phụ phí và các hiện tượng tăng giá nhanh khác - Ả-rập Xê-út. Đã tăng giá từ 1973, bây giờ họ phản đối “nhảy phốc” vì lo sợ cái lợi trong ngắn hạn có thể sẽ gây tổn thất về lâu dài cho các nhà xuất khẩu.
Các nước Ả-rập ban hành cái gọi là “Sắc lệnh Yamani”, tuyên bố rằng Ả-rập Xê-út sẽ giữ giá chính thức, không tăng thêm. Thêm vào đó, Ả-rập Xê-út yêu cầu bốn Công ty Aramco bán giá chính thức cho cả các chi nhánh của họ và cho các bên thứ ba. Nếu Ả-rập Xê-út phát hiện ra họ thêm giá thì họ sẽ bị cắt nguồn cung.
Ả-rập rõ ràng cô độc khi hành động như vậy, cả ở buổi họp với OPEC trong tháng 3 và các tháng sau đó. Đồng minh duy nhất ở OPEC của họ là các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất, có nhiều áp lực từ các nước Phương Tây. Một quan chức cấp cao, đã đi từ Washington, và Bonn, Paris, và Tokyo - đến Riyadh để cổ vũ mọi đông thái họ làm theo hướng đó.
Nhưng vào quý II năm 1979, Ả-rập cắt giảm sản lượng, quay lại mức trần 8,5 triệu thùng một ngày. Mặc cho nỗ lực của Ả-rập Xê-út nhằm giữ giá chính thức, giá thị trường chợ đen lại tăng. Có nhiều lý do được đưa ra. Ả-rập Xê-út có cố gửi một thông điệp hòa giải đến chính quyền Islamic mới Ayatollah Khomeini bằng cách giữ thị trường cho Iran và vì vậy tránh đối đầu trong khu vực? Hay họ đang tỏ thái độ không đồng tình với Hiệp ước hòa bình ở trại David giữa Israel và Hy Lạp, được ký vào 26 tháng 3. Hay họ tập trung vào tình hình tài chính của riêng họ?
Bản thân Ả-rập Xê-út cũng tranh cãi nhau về việc giữ nguồn dự trữ dầu và “câu hỏi về việc sản lượng vượt quá yêu cầu thực tế”, đặc biệt ở thời điểm họ thấy rằng nhập khẩu dầu thật sự đang tăng. Hoặc có thể Ả-rập Xê-út thấy nguồn cung từ Iran đang trở lại, cho rằng cuộc khủng khoảng có thể sẽ qua đi sớm. Bất kể vì lý do là gì, thì sự thật là chỉ có Ả-rập Xê-út mới có khả năng, mà Mỹ đã từng có, là khả năng giải quyết khủng hoảng. Bởi vậy, dù phương Tây có ca ngợi sự điều hòa giá của Ả-rập Xê-út, họ cũng yêu cầu Ả-rập Xê-út khẩn cấp tăng sản lượng trở lại nhằm tăng nguồn cung và hạn chế khủng hoảng.