Lúc bấy giờ hầu hết các nước đều bị thiếu hụt xăng dầu. Một cuộc điều tra của Hiệp hội xe Mỹ tại 6.268 trạm xăng toàn quốc cho thấy 58% đóng cửa vào thứ 7, ngày 23 tháng 6, và 70% đóng cửa vào chủ nhật, ngày 24 tháng 6, khiến lượng xăng để dùng vào kỳ nghỉ cuổi tuần đầu tiên của mùa hè ở Mỹ rất ít. Những người lái xe tải đã có một cuộc đình công ầm ĩ và bạo lực khắp toàn quốc. Một trăm xe tải đỗ dài 30 dặm ở đường Expressway, Long Island, khiến hàng chục nghìn lái xe ôtô tức giận. Giá xăng tăng không phải là vấn đề duy nhất. Lạm phát đã tăng đến mức độ chưa từng có.
Như đã xảy ra trước đó, vào thời kỳ thiếu hụt này, người ta ủng hộ chương trình “nhiên liệu tổng hợp lớn, để giảm sự phụ thuộc của Mỹ vào dầu nhập khẩu. Trong con mắt của nhiều người, sự kiện ở Three Mile Island đã khép lại cánh cửa đối với năng lượng hạt nhân. Các phương pháp thay thế đặt ra mục tiêu sản xuất vài triệu thùng nhiên liệu tổng hợp mỗi ngày.
Các phương pháp chính là hydro hóa than, một quá trình tương tự như Đức đã sử dụng trong Thế chiến II, và đốt đá ở Rockies lên 48°C. Một chương trình như thế chắc chắn sẽ tiêu tốn khoảng hàng chục tỷ đô-la, mất hàng năm để thực hiện, và gây nên nhiều vấn đề về môi trường. Nó không chắc sẽ mang lại hiệu quả thật sự, ít nhất là theo quy mô được đề ra. Nhưng về chính trị thì nó càng ngày càng có vẻ không cưỡng lại được.
|
| Tổng thống Mỹ Jimmy Carter. Ảnh: Reuters. |
Mặc cho sự ủng hộ “nhiên liệu tổng hợp tăng áp lực lên chính quyền, Carter công du đến Nhật để gặp các nhà lãnh đạo của các nước phương Tây trong cuộc họp thượng đỉnh về kinh tế.
Lo ngại rằng sự thiếu hụt dầu sẽ ảnh hưởng lên toàn bộ nền kinh tế thế giới, bảy nhà lãnh đạo của phương Tây trở lại Tokyo để chỉ họp về vấn đề năng lượng. Carter viết trong nhật ký: “Đây là ngày đầu tiên ở cuộc họp thượng đỉnh, và là một trong những ngày tồi tệ nhất trong cuộc đời ngoại giao của tôi.” Những cuộc thảo luận đều khắc nghiệt. Kể cả buổi ăn trưa, Carter cũng ghi lại là “không thoải mái và khó chịu, Thủ tướng Đức Helmut Schmidt chỉ trích tôi”. Ông thừa nhận sự can thiệp của Mỹ để có một hiệp ước hòa bình đã gây nên những vấn đề về dầu trên toàn thế giới. Còn về Thủ tướng Anh, Margaret Thatcher, Carter thấy bà là “một phụ nữ cứng rắn, cực kỳ bảo thủ, có ý chí mạnh mẽ, không thể thừa nhận rằng bà ta không biết một số thứ”.
Điểm dừng chân tiếp theo của Carter là kỳ nghỉ ở Hawaii. Nhưng Stuart Eizenstat, trưởng ban cố vấn về chính sách đối nội của Nhà Trắng, sợ rằng một kỳ nghỉ bấy giờ sẽ là một thảm họa chính trị. Ông ta cho rằng tổng thống, sau khi đi ra nước ngoài gần một tháng sẽ không hiểu được tình hình trong nước.
Trên đường đến Nhà Trắng một buổi sáng, Eizenstat ngồi chờ 45 phút ở một đường dẫn gas vào trạm Amoco, đại lộ Connecticut, ông thấy mình cũng bị ức chế giận dữ như những công dân khác từ phía này đến phía kia của đất nước. Và mục tiêu của sự giận dữ không phải nhằm vào những người làm xăng dầu, hay các công ty xăng, mà chính là chính phủ.
Sau này Eizenstat nói: “Đó là thời kỳ đen tối. Tất cả các vấn đề, lạm phát và năng lượng, đều kết hợp lại. Và dường như vấn đề không giải quyết được.” Tổng thống bị sao nhãng bởi vấn đề nước ngoài cần hiểu điều gì đang xảy ra ở nhà.
Vì vậy trong ngày cuối cùng ở Tokyo, Eizenstat gửi cho Carter một báo cáo về tình hình thiếu hụt xăng: “Không có gì khiến người Mỹ bối rối giận dữ như thế”, và nói chỉ trích đều nhằm vào ông. Ông nói thêm: “Xét theo nhiều khía cạnh, điều này có vẻ là điều tồi tệ nhất từ trước tới nay. Nhưng tôi thật sự cho rằng chúng ra có thể biến nó thành cơ hội”. Carter hủy bỏ chuyến đi Hawaii, trở về từ Tokyo, ông thấy tỷ lệ ủng hộ đã xuống đến mức 25%, chỉ bằng Nixon trong ngày cuối cùng trước khi ông ta từ chức.
Ông về trại David, ở núi Maryland, nơi ông nhận được bản phân tích dày 107 trang về tâm lý trong nước do Patrick Caddell, người trưng cầu dân ý mà ông tin tưởng nhất, viết. Ông định hòa giải tương lai của đất nước. Ông cũng gặp những người đứng đầu của Mỹ và chào đón một quyển sách mà cho thấy “tính tự yêu” là vấn đề trung tâm của nước Mỹ.
Tháng 7, Ả-rập nâng sản lượng từ 8,5 đến 9,5 triệu thùng một ngày. Họ đã đáp lại yêu cầu của Mỹ và đáp ứng lợi ích an ninh của riêng họ. Điều này làm dịu bớt tình trạng thiếu hụt trong vài tháng sau đó, nhưng nó không phải là giải pháp dài hạn, hoặc là cái gì đó mà Mỹ và phương Tây có thể phụ thuộc để ổn định tốt. Sản lượng thêm này cũng không thể làm dịu cơn giận ở nước Mỹ trong chốc lát.
Kết quả là Carter đã bị thúc ép để làm điều gì đó lớn hơn, tích cực hơn, mang lại giải pháp lâu dài hơn. Ông hoan nghênh kế hoạch nhiên liệu tổng hợp, cần thiết dựa trên chương trình hàng trăm tỷ đô-la. Đây sẽ là chương trình hấp dẫn và quyết đoán, và nhân viên của ông đã làm việc không ngơi nghỉ để thực hiện nó. Một số người tỏ ra nghi ngờ.
Tờ New York Times đăng trên trang nhất ngày 12 tháng 7 rằng một nghiên cứu mới từ một nhóm nhà nghiên cứu ở Trường kinh tế Harvard cho thấy Mỹ nên giảm nhập khẩu rẻ và nhanh bằng một chương trình bảo toàn năng lượng hơn là nhiên liệu tổng hợp. Một số khác cảnh báo rằng chương trình nhiên liệu tổng hợp sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
Nhưng trong bài phát biểu vào tháng 7 về “sự khủng hoảng niềm tin của nước Mỹ”, Carter thông báo kế hoạch sản xuất 2,5 triệu thùng nhiên liệu tổng hợp một ngày, từ than và dầu đá phiến. Trước đó, ông muốn đề xuất 5 triệu thùng một ngày, nhưng đã bị bác bỏ. Bài phát biểu của ông bị cho là “mệt mỏi”.
Carter cũng muốn thay đổi trong nội các, và đặc biệt, buộc hai thành viên phải từ chức, là Bộ trưởng Tài chính, Michael Blumenthal và Bộ trưởng Y tế Joseph Califano. Cố vấn chính trị của ông, Hamilton Jordan và Jody Powel đã thuyết phục ông rằng hai người này không trung thành. Stuart Eizenstat lại nói với tổng thống rằng ông đã làm việc với hai người này hằng ngày và họ rất trung thành với chính quyền. Eizenstat hối thúc tổng thống ngừng quyết định trên vì Califano là người có sự ủng hộ chính trị mạnh mẽ, còn Blumenthal là người đấu tranh chủ yếu với nạn lạm phát.
Nhưng Carter đã quyết định. Họ phải ra đi. Vấn đề chỉ còn là bằng cách nào. Chỉ trước khi Nội các họp, Carter khẳng định tất cả thành viên nội các đã xin từ chức và ông chỉ giữ lại những ai ông muốn. Một số cố gắng can ngăn ông cho rằng hành động trên chỉ gây thêm hoảng loạn. Nhưng tổng thống lại báo lại rằng mọi người nên nhìn nhận điều này theo hướng tích cực.
Ngoại trưởng Cyrus Vance đề nghị tất cả các bộ trưởng xin từ chức để Carter có thể làm lại. Tổng thống tán thành. Vài phút sau, Robert Strauss, nhà đàm phán hòa bình Trung Đông đi vào, không biết điều gì vừa xảy ra và tại sao căn phòng lại ảm đạm, nói đùa rằng mọi người đều phải từ chức. Lời nói của ông được ủng hộ trong im lặng. Cuối cùng, một trong các bộ trưởng nói thầm “Bob, im đi”. Tất cả họ vừa từ chức.
Đồng loạt năm người rời khỏi nội các, một số bị đuổi còn một số tự nguyện. Mục đích là ủng hộ tổng thống. Nhưng nó lại phản tác dụng. Tin bất ngờ về sự kiện này làm lan truyền cảm giác bất an ở trong nước và cả ở phương Tây. Trong buổi ăn trưa hôm đó, biên tập của tờ Washington Post nói rằng chính quyền trung ương Mỹ đã sụp đổ.