| |
| Những con voi ở Angkor Wat đã mất đi ý chí phản kháng. Ảnh minh họa: L.P. |
Trong chuyến đi chơi đến đền Angkor Wat, tôi đã cho con mình trải nghiệm một chuyến cưỡi voi. Khi chuẩn bị trèo lên con voi, chúng tôi nhận thấy rằng có vài con khác chỉ được buộc bằng một sợi thừng mảnh vào chân trước với một chiếc cọc.
Rõ ràng những chú voi này có thể dễ dàng bứt dây thừng hoặc nhổ phăng cọc, nhưng chúng không làm thế. Tôi hỏi người hướng dẫn viên làm thế nào họ giữ cho những con voi bằng công cụ giam giữ thô sơ như thế.
Anh ta giải thích rằng khi những con voi còn nhỏ, người quản tượng sẽ sử dụng một sợi dây mảnh tương tự để buộc chúng vào cọc. Vì chúng còn nhỏ, nên sợi dây đó đủ sức giữ chúng không bỏ chạy. Lúc đầu, con voi cố gắng thoát ra, nhưng cuối cùng nó “học” được rằng những nỗ lực đó là vô ích.
Vì vậy, nó cứ ở nguyên một chỗ, ngay cả khi nó đủ lớn để tự giải thoát. Con voi “tự hiểu” bản thân bị mắc kẹt, vì vậy nó thậm chí không bao giờ cố gắng bứt dây nhổ cọc. Sự ràng buộc thực sự không phải nằm ở khía cạnh vật chất mà là tinh thần.
Đây là bài học thực tế hoàn hảo. “Giống như những chú voi”, tôi từng nói với các con mình, “nhiều người đã phí cả cuộc đời để tin rằng có những điều họ không thể làm được, vì họ từng có kinh nghiệm đau đớn trong quá khứ. Hãy cẩn thận để đừng rơi vào cái bẫy tư duy này. Hãy thường xuyên kiểm chứng các giới hạn của con”.
Vào năm 1967, nhà tâm lý học người Mỹ Martin Seligman đã đặt ra thuật ngữ “sự bất lực tập nhiễm” (learned helplessness) khi ông nghiên cứu chứng trầm cảm. Sự bất lực tập nhiễm là thái độ của một người (hay con vật) khi không cố thoát khỏi một tình huống tiêu cực do quá khứ đã “dạy” là họ/nó vô phương làm được.
Seligman nhận diện hành vi này ở những người và những con vật liên tục phải chịu các kích thích đau đớn mà không thể tránh được. Sau ngần ấy trải nghiệm, đối tượng thí nghiệm ngừng cố gắng tránh những tình huống không thể chấp nhận nổi mà lẽ ra anh ta/cô ta/nó có thể tránh dễ dàng.
Nói cách khác, đối tượng đã tiếp thu được rằng mình không kiểm soát được các tình huống ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân nên đã từ bỏ nỗ lực.
Seligman đã nghiên cứu về phản xạ có điều kiện kinh điển, tức quá trình mà con người hay con vật liên kết một yếu tố này với một yếu tố khác. Trong một thí nghiệm, ông rung chuông và sau đó gây sốc điện nhẹ cho một số con chó. Sau khi lặp lại vài lần như thế, những con chó phản ứng như thể chúng đã bị sốc điện khi nghe tiếng chuông.
Seligman đã đặt từng con chó trong thí nghiệm đầu tiên này vào một cái lồng lớn, ở giữa có một vách ngăn thấp làm hàng rào. Ở một bên thì sàn có dòng điện chạy qua, nhưng phía bên kia thì không và con chó có thể nhảy qua vách ngăn để tránh bị sốc điện.
Seligman đặt con chó vào bên có điện và gây sốc nhẹ. Ông dự kiến con chó sẽ nhảy qua phía bên kia để không bị điện giựt, nhưng thay vào đó, nó cứ nằm đó và không chịu nhảy. Cứ như thể những con chó trong phần đầu của thí nghiệm tự biết chúng không thể làm gì để tránh những cú sốc điện, nên chúng đã từ bỏ ngay cả khi có thể tránh được.
Tiếp sau những con chó không chịu nhảy qua hàng rào để tránh sốc điện, Seligman đặt một vài con chó chưa từng kinh qua cảm giác “tất phải bị sốc điện” vào lồng có hàng rào. Những con chó này nhanh chóng nhảy qua hàng rào để thoát các cú sốc điện. Seligman kết luận rằng những con chó cứ nằm yên thực ra đã “học” được cảm giác bất lực từ thí nghiệm ban đầu.
Con người thực chất không khác gì với voi con và chó. Khi cảm thấy mình không kiểm soát được những tình huống tiêu cực, chúng ta sẽ đơn giản từ bỏ và đầu hàng những cú sốc. Chúng ta cảm thấy bất lực, không chỉ trong tình huống vô phương tránh khỏi mà còn trong cuộc sống của ta nói chung.
Seligman và những người khác nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa sự bất lực tập nhiễm và chứng trầm cảm lâm sàng. Tôi cam đoan có một mối liên hệ mạnh mẽ không kém giữa sự bất lực tập nhiễm với sự thiếu gắn bó. Đó là lý do rất nhiều người trong chúng ta ngừng cố gắng làm cho mọi thứ tốt hơn.