Câu chuyện tuổi thơ
Bà cố ngoại của tôi, Solemia Ushka, là người cuối cùng trong một gia tộc tại Minsk, Belarus sống sót qua Thế chiến thứ nhất. Trước khi chiến tranh kết thúc, bà đã cùng chồng là ông cố ngoại Dan của tôi trốn đến Mỹ, và định cư tại Chicago.
Bà Solemia sau đó vẫn còn phải chống chọi với thêm hai thảm kịch khác nữa trong cuộc đời mình. Con gái 2 tuổi của bà chết vì bị xe tông trong một buổi dã ngoại, và chồng bà, vốn là người hay say rượu, qua đời vì bệnh tiểu đường, để lại bà góa bụa với một người con trai là Paul, không tiền, không biết làm gì.
Bà Solemia cũng không biết nói tiếng Anh. Là người chắc nịch và mạnh khỏe, bà không e ngại chuyện phải lao động chân tay và đã nhận làm lao công ca đêm cho hai tòa tháp của tòa nhà Wrigley tại Đại lộ Bắc Michigan, Chicago. Cả cuộc đời đi làm của bà hầu như đều là lau dọn hành lang và nhà vệ sinh.
Khi tôi còn nhỏ, Baba, theo cách gọi của đám cháu chắt, năm nào cũng cho tôi và Joe 10 đôla vào dịp Giáng sinh, kèm theo một chiếc hộp thiếc nhỏ đựng đầy các thanh kẹo cao su Wrigley.
Sau khi nghỉ hưu, Baba chuyển đến sống trong một căn nhà trệt bằng gạch tại một nông trang nằm ngoài thành phố. Mấy chị em tôi cứ vài tháng lại đến thăm bà và ở lại suốt hai tuần vào dịp nghỉ hè. Chúng tôi cắt cỏ cho bà, hái cà chua và dâu trong vườn, leo cây, và đi bơi ở hồ Griswold gần đó.
Ngôi nhà nhỏ bé của Baba chẳng khác nào một ốc đảo. Bà tự lo cho mình bằng tiền lương hưu ít ỏi, tiền An sinh Xã hội, và rút tiết kiệm từ khoản trái phiếu chính phủ mà bà vẫn đều đặn mua hằng tuần trong suốt 30 năm đi làm. Baba là một phụ nữ kiên cường và tháo vát, có bản năng sinh tồn cao và triết lý sống đơn giản: làm việc chăm chỉ, cố gắng tiết kiệm thật nhiều.
Bà cũng rất mạnh mẽ. Năm 1967, Baba bị chẩn đoán mắc ung thư vú, các bác sĩ đoán rằng bà chỉ sống được thêm từ sáu đến 18 tháng. Nhưng bà đã sống thêm được tận mười năm.
|
| Truyền thống gia đình tôi luyện tinh thần thép của nữ CEO. Ảnh: The Economic Clup of Washington DC. |
Ông ngoại Paul của tôi, con trai của Baba, cưới một phụ nữ xinh đẹp, rắn rỏi tên là Mary - bà ngoại tôi, và có một con gái là Arlene - chính là mẹ tôi. Không lâu sau đó, ông ngoại qua đời vì bệnh thấp tim, khiến bà ngoại đứng trước một tình cảnh tang thương nhưng lại vô cùng quen thuộc: bà cũng là một góa phụ trẻ, không tiền, không có học thức và có một đứa con nhỏ cần chăm sóc.
Baba và con dâu Mary, hai phụ nữ, một người là mẹ, một người là vợ, cùng chịu nỗi đau mất mát, đã quyết định dọn về sống chung để tiết kiệm tiền và nuôi dạy Arlene. Baba đi làm đêm tại tòa nhà Wrigley, còn Mary thì làm nhiều công việc vào ban ngày, trong đó có công việc tại xưởng may, một nơi nguy hiểm vì tóc bà từng có lần bị cuốn vào máy cắt, may mắn là bà thoát ra được mà không bị thương nghiêm trọng.
Bà ngoại Mary sau đó tái hôn và dọn đến ở cùng chồng mới, Theodore, và họ có với nhau một cô con gái, Diane. Hai người cùng nhau mở một công ty sản xuất và bán đèn tại nhà, bà ngoại là người thiết kế và sửa chữa những chiếc chụp đèn hoa văn.
Các mẩu quảng cáo trắng đen của họ trên tờ Chicago Tribune chào mời rằng “bộ sưu tập đèn và chụp đèn đa dạng nhất, chế tác thủ công, có thể giặt được, đáp ứng mọi mức giá và kiểu cách trang trí”. Cửa hàng còn bán thêm cả các mặt hàng đồ gỗ nhỏ và quà tặng. Đến năm 1960, Mary và Ted đã chuyển cửa hàng sang ngôi nhà một trệt một lầu trên đại lộ Belmont, tầng dưới là cửa hàng đèn và chụp đèn Mary và tầng trên căn hộ ba phòng ngủ của họ.
Ted qua đời năm 1966 do suy thận, và bà ngoại tôi lại một lần nữa góa bụa ở tuổi 47. Bà không tái hôn, vẫn một mình tiếp tục kinh doanh cửa hàng đèn - mua nguyên vật liệu, may, bán, chi trả các hóa đơn, và mở cửa từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối suốt bảy ngày trong tuần. Bà sống vui vẻ ở tầng trên, với sự bảo vệ của Cinders, con chó berger Đức lớn của bà.
Cũng giống như ngôi nhà ngoại ô của Baba, ngôi nhà ở thành phố của bà ngoại sớm trở thành một địa điểm quen thuộc, thú vị đối với chúng tôi. Bà ngoại thường cho tôi và Joe vài đô la để chúng tôi đi bộ đến Woolworth’s hay cửa hàng đồ chơi gần nhà mua bộ tranh ghép hình hay bộ lắp ráp xe hơi đồ chơi, và chúng tôi cứ thế miệt mài lắp ghép trên chiếc bàn ăn của bà. Đôi khi chúng tôi mua sách bài tập toán hay câu đố chữ.
Theo thời gian, bà cũng dạy cho tôi và Annette cách may vá, một kỹ năng sau này sẽ thật hữu dụng khi tôi không đủ tiền mua váy cho dịp vũ hội tốt nghiệp, hay khi em gái tôi muốn có một chiếc đầm Gunne Sax màu hồng để mặc vào dịp lễ tốt nghiệp lớp 8.
Cũng giống như Baba, bà ngoại không bao giờ biết mệt khi nấu ăn hay làm bánh. Những lúc chúng tôi đến chơi, nhà bà không bao giờ thiếu món khoai tây nghiền, bánh cupcake, sườn heo, và nồi cơm nóng hổi. Mỗi năm, đến tháng 12 là trong bếp của bà lại xuất hiện đủ loại bánh quy Giáng sinh hết sức ấn tượng (thành phần không bao giờ thiếu là bơ thực vật Imperial).
Đối với Baba và bà ngoại, nấu ăn và chăm sóc gia đình chính là yêu thương. Đối với tôi, đồ ăn là niềm an ủi, đặc biệt là những bữa chính và bữa ăn vặt ngọt ngào, phong phú và thịnh soạn. Điều này vẫn không thay đổi trong suốt cuộc đời tôi. Tôi vốn là một người cao và có khung xương lớn, lúc thì mũm mĩm nhưng lúc lại chỉ hơi đầy đặn, và việc giữ cho cân nặng ổn định đã trở thành một cuộc vật lộn kéo dài cả đời đối với tôi.
Bà ngoại cũng bị chẩn đoán ung thư năm 1961, nhưng cũng giống như mẹ chồng mình, bà sống lâu hơn tiên đoán của bác sĩ đến gần 50 năm. Tôi xuất thân từ một dòng dõi kiên cường.
Hai người phụ nữ độc lập, chăm chỉ này chính là những hình mẫu đầu tiên của cuộc đời của tôi. Họ sống đơn giản và đầy tình thương, nhưng đồng thời cũng thật mạnh mẽ và đại diện cho tư duy làm việc của người Mỹ: làm những gì cần làm và làm hết sức mình để đạt được điều bạn cần.
Khi nhìn lại, tôi có thể thấy lựa chọn của họ bao hàm các triết lý của quyền lực hướng thiện. Mỗi người đều hết mình phụng sự người khác, chủ yếu là gia đình, nhưng ngoài ra, trong trường hợp của Baba là phục vụ cho những người làm trong những tòa nhà văn phòng do bà dọn dẹp, và trong trường hợp của Mary là khách hàng của cửa hàng đèn.
Khi tai họa xáo trộn cuộc đời họ, họ quyết chí kiên cường và đứng dậy bằng sự ngoan cường và lòng quyết tâm. Mỗi người đều là anh hùng trong câu chuyện của riêng mình, và mẹ tôi sau này cũng thế.
Cha và mẹ tôi chờ cho chuyện qua vài tuần rồi mới nói với mọi người rằng họ đã trốn đi cùng nhau. Mẹ tôi, Arlene, khi đó chỉ mới 17 tuổi, là học sinh trung học đang sống cùng mẹ và cha dượng trong căn hộ bên trên cửa hàng đèn. Bà có đôi mắt lanh lợi, nụ cười dễ mến và nét tươi sáng thu hút mọi người.
Cha tôi, Salvatore Nicosia, tên thường gọi là Nick, là một thanh niên 19 tuổi có vẻ ngoài ngổ ngáo nhưng không kém phần thu hút. Ông bỏ ngang trường trung học quân sự và tìm được việc làm người thiết lập định mức lương tại General Electric, sau này thì ông làm việc chung với cha mình trong lĩnh vực bất động sản thương mại.