|
|
Lớp màng đen trong bụng cá thường bị nhiều người bỏ qua khi sơ chế. Ảnh: China.com. |
Cá là loại thực phẩm bổ dưỡng và là món ăn phổ biến trong nhiều gia đình. Tuy nhiên, mặc dù ăn cá có nhiều lợi ích, các bộ phận của cá có thể chứa kim loại nặng, ký sinh trùng, thậm chí độc tố gây ngộ độc cao.
Bộ phận của cá chứa nhiều ký sinh trùng, kim loại nặng
Theo Health News, ai cũng nói cá tốt cho sức khỏe, nhưng làm thế nào để ăn cá đúng cách? Da, mang và nội tạng cá tiềm ẩn rủi ro; ăn sai cách có thể dẫn đến việc hấp thụ kim loại nặng:
- Da cá: Giàu collagen và axit béo không bão hòa, nhưng đây cũng là phần dễ tích tụ kim loại nặng (như thủy ngân và chì) nhất, đặc biệt là các loài cá lớn từ đại dương có nguy cơ cao hơn.
- Mang cá: Chứa DHA, EPA và collagen, nhưng độc tố và ký sinh trùng có thể dễ dàng ẩn náu xung quanh mang cá, vì vậy hãy nhớ làm sạch kỹ lưỡng trước khi chế biến.
- Màng đen ở bụng: Hầu hết loài cá đều có một lớp màng đên ở cả hai bên khoang bụng. Đây là phần tanh nhất và có mùi bùn nhất của cá. Nó chứa lượng lớn histamine, lipid và lysozyme. Ăn phải histamine có thể gây ra các triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa và đau bụng.
- Nội tạng cá: Chúng có giá trị dinh dưỡng hạn chế, nhưng lại là bộ phận tích tụ nhiều độc tố, kim loại nặng và ký sinh trùng nhất, vì vậy không nên ăn chúng.
Theo PGS Nguyễn Duy Thịnh, Nguyên cán bộ Viện Công nghệ Sinh học - Công nghệ Thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội, ruột là bộ phận bẩn nhất của cá và về nguyên tắc không nên ăn, dù nhiều người đánh giá ruột cá béo, bùi và rất "đưa cơm".
Cá sống trong môi trường nước, ăn nhiều loại thức ăn lẫn tạp chất, tất cả đều đi qua và tích tụ trong ruột. Vì vậy, ruột cá dễ chứa vi khuẩn, ký sinh trùng, trứng giun, trứng sán, đặc biệt nguy hiểm là giun xoắn - loại ký sinh trùng rất khó phát hiện bằng mắt thường.
Không chỉ vậy, ở những vùng nuôi cá trong môi trường nước ô nhiễm, ruột cá còn có thể nhiễm kim loại nặng và độc tố, gây hại cho trẻ nhỏ, người cao tuổi và người suy giảm miễn dịch.
|
| Cá rất giàu dinh dưỡng nhưng không phải bộ phận nào cũng ăn được. Ảnh: Freepik. |
Bộ phận của cá có thể gây ngộ độc
Theo The Paper, mật cá chứa nhiều độc tố khác nhau như axit cholic, taurine, axit deoxycholic taurine và axit xyanhydric. Trong đó, axit xyanhydric là độc nhất, thậm chí còn độc hơn cả cùng một liều lượng asen. Cho dù ăn sống, nấu chín hay ngâm trong rượu, các thành phần độc hại đều không bị phá hủy, và việc ăn phải sẽ dẫn đến ngộ độc.
Đặc biệt, túi mật của các loại cá chúng ta thường hay ăn như cá chép, cá diếc, cá mè, cá chép đen và cá chép bạc đều có độc. Vì cá diếc có kích thước tương đối lớn, sản sinh ra nhiều mật và dễ mua, số người bị ngộ độc do ăn túi mật cá diếc là cao nhất.
Sau khi vào đường tiêu hóa, mật cá trước tiên đến gan và được bài tiết qua thận. Nồng độ mật cá cao nhất ở thận, vì vậy, ngộ độc gan thận là nguyên nhân chính, và các biểu hiện lâm sàng thường bao gồm suy thận cấp và tổn thương gan.
Thời gian ủ bệnh ngộ độc mật cá là từ 0,5 đến 6 giờ, và thời gian ủ bệnh càng ngắn thì tiên lượng càng xấu.
Các triệu chứng ban đầu bao gồm dấu hiệu về đường tiêu hóa như đau bụng, buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy thường xuyên. Một số bệnh nhân có thể bị đau đầu, chóng mặt, buồn ngủ, tê bì ở các chi xa, môi và lưỡi, liệt cơ ở cả hai chi dưới, hoặc thậm chí co giật và hôn mê. Nhiều người cũng có thể có các biểu hiện của bệnh cơ tim do nhiễm độc như nhịp tim nhanh.
Một số bệnh nhân bị xuất huyết đường tiêu hóa, dẫn đến nôn ra máu và đi ngoài phân đen. Hiện tượng tan máu có thể gây giảm nồng độ hemoglobin, dẫn đến các triệu chứng như chảy máu cam, xuất huyết kết mạc và dưới da.
Theo Tâm lý học tích cực, khoa học hạnh phúc không phải cái gì cao siêu, to tát. Thực ra, hạnh phúc ở ngay trong bản thân ta, và quanh ta. Lifestyle giới thiệu tác phẩm "100 cách sống hạnh phúc". Cuốn sách là những chỉ dẫn thiết thực để sống hạnh phúc, thông qua thói quen, luyện tập cơ thể, tư tưởng tích cực, hoạch định tương lai và xây dựng các mối quan hệ.