Khi Đức khởi động hết công suất tất cả máy móc công nghiệp của mình, khối tài sản xã hội khổng lồ liên tục được tạo ra, hàng hóa chất lượng cao tràn vào thị trường Mỹ và thị trường chung châu Âu, đồng thời đô-la và vàng cuồn cuộn tràn vào kho bạc Đức.
Năm 1950, Đức không có vàng dự trữ, nhưng chỉ trong vòng 6 năm, trữ lượng vàng của Ngân hàng Trung ương Đức đã dễ dàng vượt qua “cường quốc vàng” trứ danh trong lịch sử là Pháp, đồng thời còn tích lũy được một lượng dự trữ đôla khổng lồ.
Khi đồng mark của Đức được cả thế giới trầm trồ ca ngợi và tranh nhau giành lấy, các chủ Ngân hàng Trung ương của Đức bắt đầu trở nên kiêu căng. Họ xuất hiện với tư cách là những người bảo vệ đồng mark và thường xuyên xảy ra tranh chấp với Chính phủ.
Thủ tướng Adenauer từng lớn tiếng phản đối rằng Ngân hàng Trung ương Đức “là một định chế không cần phải chịu trách nhiệm trước bất kỳ ai, không phải trước Quốc hội, cũng không phải với bất kỳ Chính phủ nào...
Lưỡi dao (của chính sách tiền tệ) sẽ rơi xuống đầu của tất cả người dân.” Sự tức giận của Adenauer là hoàn toàn chính đáng, hậu thuẫn mạnh mẽ của đồng mark không phải là chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương mà là sức mạnh công nghiệp hùng hậu do hàng nghìn kỹ sư và công nhân lành nghề của Đức tạo ra.
|
| Tiền tệ của Đức gắn liền với lịch sử thăng trầm của đồng đô-la. Ảnh: Yahoo Finance. |
Do sức cạnh tranh của ngành công nghiệp Đức, đồng đôla bắt đầu chảy vào Đức trên quy mô lớn. Nguyên nhân của hiện tượng này vừa là vì thặng dư đôla do quá trình thương mại, vừa bắt nguồn từ sự ưu tiên của các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Đức, đồng thời cũng là bởi “tiền nóng” tràn vào Đức ngày càng tăng nhanh.
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, đồng mark bắt đầu đối mặt với áp lực tăng giá ngày càng cao. Để duy trì yêu cầu về sự ổn định của tỷ giá hối đoái tiền tệ của các quốc gia trong hệ thống Bretton Woods, Ngân hàng Trung ương Đức buộc phải “in tiền” để mua một lượng lớn đôla Mỹ nhằm hạn chế áp lực tăng giá của đồng mark so với đôla Mỹ.
Đây là vấn đề tương tự như việc Trung Quốc hiện phải phát hành thêm nhân dân tệ để mua đôla Mỹ nhằm duy trì sự ổn định của tỷ giá nhân dân tệ. Do việc phát hành thêm đồng mark đã tạo ra áp lực lạm phát ở Đức, vấn đề nên tăng lãi suất để chống lạm phát hay là tăng giá đồng mark để chống lạm phát đã gây ra những tranh cãi gay gắt giữa Ngân hàng Trung ương Đức và Chính phủ.
Tăng lãi suất sẽ không tốt cho nền kinh tế, còn tăng giá không tốt cho xuất khẩu. Đến năm 1961, giá trị của đồng mark tăng 5% và làm biến đổi hệ thống Bretton Woods. Sự trỗi dậy của đồng mark đã thực sự làm lung lay tòa tháp của hệ thống đôla.
Cần phải nói rõ một điều rằng đồng mark tăng giá là sự phản ánh thực tế về sự phát triển của sức mạnh công nghiệp Đức, còn hệ thống tỷ giá hối đoái được củng cố bởi Bretton Woods thể hiện trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia vào khoảng năm 1945.
Khi nền kinh tế Đức từ đống tro tàn trở thành một gã khổng lồ, việc ép đồng mark vào hệ thống Brenton cũng tương tự như bắt một chàng trai 20 tuổi đi đôi giày của một đứa trẻ 8 tuổi. Tuy nhiên, sự tăng giá của đồng mark sẽ gây ra một tổn thất tiềm tàng ở mức độ đáng kể đối với dự trữ tiền tệ của Đức, đặc biệt là dự trữ đôla Mỹ, mặc dù trong thời đại mà giá vàng và đôla đang ở mức ổn định thì tổn thất này sẽ không được thể hiện một cách rõ ràng.
May mắn thay, trong dự trữ tiền tệ của Đức thì tỷ trọng của vàng nhiều hơn đôla, vì vậy mức độ tổn thất của dự trữ đôla sẽ được giảm nhẹ đáng kể. Vì trong 30 năm trước đó giá trị của đồng mark bị phá hủy hai lần, thế nên vàng luôn chiếm một phần đáng kể trong dự trữ tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Đức.
Tuy nhiên, việc đồng mark tăng giá đã gây ra hàng loạt phản ứng dây chuyền ở châu Âu. Cùng với việc đồng mark tăng giá, đồng guilder của Hà Lan cũng tăng theo. Pháp và các nước trong cộng đồng châu Âu khác bắt đầu lo ngại rằng sự biến động tỷ giá hối đoái giữa các nước trong thị trường chung sẽ ảnh hưởng đến cán cân thương mại và kinh tế trong khu vực, và cuối cùng làm suy yếu cán cân chính trị.
Vì vậy, vào năm 1965, cộng đồng châu Âu đã đề xuất rằng xu hướng phát triển của cộng đồng châu Âu nhất thiết đòi hỏi sự hình thành của một liên minh tiền tệ, trước tiên với mục tiêu ổn định tỷ giá hối đoái, sau đó sẽ dần dần thiết lập nên một đồng tiền châu Âu duy nhất.
Điều này đã dẫn đến một cuộc tranh cãi kéo dài suốt nửa thế kỷ giữa hai phe. Phe do Đức đứng đầu tin rằng việc thống nhất tiền tệ là một quá trình lâu dài với sự hội nhập của nền kinh tế các nước là điều kiện tiên quyết và bắt buộc phải có một chính sách thương mại chung, một chính sách thuế và tài khóa chung, một chính sách kinh tế chung và một chính sách dân sinh chung trước khi bàn tới một đồng tiền thống nhất.
Người Đức không mấy tin tưởng rằng một liên bang tiền tệ nằm ngoài phạm vi chủ quyền của các quốc gia là một điều khả thi. Phe còn lại do Pháp dẫn đầu thì khẳng định rằng hội nhập tiền tệ là điểm khởi đầu của hội nhập kinh tế, và sẽ không có sự phát triển kinh tế ở châu Âu nếu không có tỷ giá hối đoái ổn định.
Trên thực tế, bản chất của cuộc tranh chấp giữa hai bên là liệu liên minh tiền tệ là điểm khởi đầu hay điểm kết thúc, là phương tiện hay mục tiêu để hình thành nên liên minh châu Âu.
Đồng đô-la Mỹ ngày càng mất giá. Trong cuộc khủng hoảng tiền tệ đang diễn tiến trầm trọng này, châu Âu cũng càng thêm nóng lòng thúc đẩy sự hình thành của một liên minh tiền tệ.