Điều gì đã xảy ra với thị trường dầu mỏ thế giới và giá dầu? Lạm phát dữ dội đang đe dọa không chỉ cục diện kinh tế mà còn toàn bộ các mặt xã hội của thế giới phương Tây. Cục dự trữ Liên bang Mỹ đã phản ứng lại bằng cách nới lỏng chính sách tiền tệ, tăng tỷ lệ lãi suất lên một tỷ lệ cao ngất trời, 21,5%.
Tình trạng khan hiếm tiền xuất hiện trong thế giới công nghiệp vì giá dầu lại tăng cao. Hậu quả kép là suy thoái rộng lớn nhất kể từ cuộc Đại suy thoái cho đến khi đó, với hai điểm ở đáy, một là năm 1980 và hai, nghiêm trọng hơn năm 1982. Việc ngừng các hoạt động kinh tế lâu dài đã làm giảm nhu cầu về dầu tại các nước công nghiệp.
Các nước đang phát triển được coi là thị trường chính, kì vọng có thể làm giá tăng lên. Thực tế, rất nhiều nước đang phát triển, nợ nần chồng chất, thị trường nguyên liệu thô của họ lại bị ảnh hưởng của cuộc suy thoái của các nước công nghiệp nên cũng bị suy giảm kinh tế nghiêm trọng, và phải cắt giảm nhu cầu về dầu mỏ.
|
| Các thùng dầu ở một kho chứa. Ảnh: Reuters. |
Hơn thế nữa, bản thân ngành công nghiệp năng lượng cũng đang diễn ra những thay đổi cơ bản. Nỗi lo sợ ban đầu về tình trạng thiếu hụt, đầu những năm 1920, giữa những năm 1940, lại kết thúc trong tình trạng thặng dư, dư cung do giá tăng đã thúc đẩy công nghệ mới ra đời và sự phát triển của những năng lượng mới.
Giá dầu hiện tại là 34 đôla một thùng dầu và người ta kì vọng giá tương lai sẽ cao hơn. Những bước tiến mới diễn ra ngoài khối OPEC. Đa số các nhà máy dầu được xây dựng ở Mexico, Alaska và Biển Bắc xuất hiện cùng lúc với tình trạng hỗn loạn của cú sốc giá dầu thứ hai. Ai Cập trở thành quốc gia xuất khẩu dầu quan trọng, sau đó là Malaysia, Angola và Trung Quốc.
Nhiều nước khác cũng trở thành nước sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ, dù quy mô nhỏ nhưng có tầm quan trọng lớn. Các cuộc cách mạnh chủ yếu nhằm vào tăng cường thăm dò dầu khí, sản xuất và chuyển giao công nghệ. Hiệu suất ban đầu của đường ống Alaska là 1,7 triệu thùng một ngày. Cùng với việc bổ sung thêm chất hóa học có tên “slickem” có khả năng làm giảm các vật bám trong đường ống dẫn dầu, giúp đẩy nhanh tốc độ dòng chảy, năng suất đã lên tới 2,1 triệu thùng một ngày. Mức giá 34 đôla một thùng dầu cho phép đầu tư nhiều hơn vào khai thác và sản xuất - điều không thể với mức giá 13 đôla một thùng, và sản lượng 48 đôla một thùng của Mỹ vẫn tiếp tục ở mức cao. Sản lượng trên, cùng với sản lượng lớn của Alaska, cho thấy sản xuất dầu mỏ của Mỹ đã tăng nửa đầu thập niên 1980.
Nhu cầu về dầu mỏ cũng có những thay đổi quan trọng. Xu hướng phụ thuộc ngày càng nhiều vào dầu mỏ so với các loại năng lượng khác, ở thế kỷ XX này, đã bị đảo ngược bởi giá dầu leo thang, những tính toán an ninh và các quyết sách của chính phủ.
Than đá lại được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp và năng lượng. Năng lượng nguyên tử cũng nhanh chóng có mặt trong lĩnh vực điện lực. Tại Nhật Bản, tỷ trọng khí gas lỏng tự nhiên trong ngành kinh tế năng lượng và công nghiệp điện cũng bắt đầu tăng lên. Trên toàn thế giới, tất cả những điều này có nghĩa là dầu mỏ đang bị loại ra khỏi một vài thị trường quan trọng nhất và mất dần vị thế. Tỷ trọng dầu mỏ trong ngành năng lượng ở các quốc gia công nghiệp đã giảm từ 53% năm 1978 xuống còn 43% năm 1985.
Không chỉ dầu mỏ bị giảm thị phần trong chiếc bánh năng lượng, mà bản thân chiếc bánh đó cũng bị thu nhỏ đi, cho thấy sự tác động sâu sắc của chương trình tiết kiệm năng lượng. Mặc dù thường xuyên bị bác bỏ hoặc bị chế nhạo, nhưng tiết kiệm năng lượng đã tỏ ra có tác động to lớn. Tiết kiệm năng lượng trong các xã hội công nghiệp hiện đại, nói chung, không có nghĩa là phải cắt giảm, cũng không phải “nhỏ mà đẹp”, mà là sáng tạo về công nghệ và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn.
Điều luật năm 1975 quy định sử dụng loại xe mới tăng gấp đôi hiệu quả sử dụng nhiên liệu, khiến mức tiêu thụ giảm xuống mức 27,5 triệu thùng mỗi ngày, giảm 2 triệu thùng/ngày so với khi không sử dụng loại xe mới, mức giảm này bằng với mức sản xuất bổ sung ở Alaska. Nhìn chung, tính đến năm 1985, sử dụng năng lượng và dầu mỏ ở Mỹ hiệu quả hơn so với năm 1973 lần lượt là 25% và 32%. Nếu Mỹ vẫn giữ nguyên mức độ hiệu quả như năm 1973 thì nước này đã sử dụng thêm khoảng 13 triệu thùng dầu so với thực tế năm 1985. Trữ lượng dầu tính ra thật là lớn. Các quốc gia khác cũng có lượng dầu dự trữ đáng kể. So sánh cùng kỳ, hiệu quả sử dụng năng lượng và dầu mỏ của Nhật Bản cũng lần lượt tăng gấp 31% và 51%.
Năm 1983, năm đầu tiên nền kinh tế phục hồi, tác động của việc tiết kiệm và chuyển đổi năng lượng là rất rõ ràng. Tiêu thụ dầu ở các quốc gia tư bản đạt 45,7 triệu thùng mỗi ngày, ít hơn khoảng 6 triệu thùng so với thời thời kỳ cao điểm − 51,6 triệu thùng mỗi ngày năm 1979. Như vậy, trong khi nhu cầu tiêu thụ dầu đã giảm đi 6 triệu thùng một ngày trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1983, việc sản xuất của các quốc gia ngoài OPEC lại tăng thêm 4 triệu thùng mỗi ngày. Đáng chú ý nhất là các công ty dầu mỏ đang mong muốn giải phóng lượng dầu dữ trự đầy ự mà họ đã tạo ra do dự đoán sai lầm về việc nhu cầu dầu mỏ sẽ tăng cao.
Ba xu hướng này - nhu cầu về dầu mỏ tụt giảm, các quốc gia ngoài OPEC không ngừng cung cấp dầu, và cuộc bán tống bán tháo dầu dự trữ - đã khiến người ta kêu gọi OPEC giảm bớt 13 triệu thùng mỗi ngày, giảm 43% so với mức năm 1979! Cuộc cách mạng Iran và cuộc chiến tranh Iran-Iraq tiếp theo đó đã làm tê liệt khả năng xuất khẩu của hai quốc gia này. Tuy nhiên, thay vì khan hiếm dầu mỏ như một số người đã lo lắng, thực tế sản xuất lại dư thừa với số lượng lớn hơn nhiều so với nhu cầu thị trường - mà xét cho cùng, đấy chính là nguyên nhân dẫn đến dư cung lớn.