Trong khi đó, lễ kỷ niệm 20 năm thành lập OPEC đang đến rất gần. Qua hai thập kỉ, tổ chức này từ con số không đã phát triển lớn mạnh trong nền kinh tế thế giới. Và một lễ kỷ niệm quy mô được lên kế hoạch sẽ diễn ra tại hội nghị thượng đỉnh OPEC vào tháng 11. Một ủy ban đặc biệt đang hoạch định chiến lược dài hạn như mong đợi. Một nghìn năm trăm nhà báo sẽ được mời tham dự sự kiện lớn sẽ diễn ra tại Baghdad, nơi OPEC được thành lập vào năm 1960.
Sáng ngày 22 tháng 9 năm 1980, các Bộ trưởng Dầu mỏ, Bộ trưởng Tài chính và Bộ trưởng Ngoại giao của các quốc gia OPEC tự tin nhóm họp tại cung điện Hapsburg, Viên để tiếp tục lên kế hoạch cho buổi lễ kỷ niệm sẽ diễn ra tại Baghdad. Nhưng chỉ trong vòng vài phút ngay sau lễ khai mạc đã nổ ra những tiếng xôn xao bày tỏ sự hoang mang, bối rối và tức giận. Và hội nghị chung đã nhanh chóng trở thành một phiên họp kín. Lý do là vì đã có một kế hoạch khác được lên ở Baghdad.
|
| Lực lượng Iraq bắn tên lửa ở ngoại ô Khorramshahr, Iran, tháng 10/1980. Ảnh: britannica. |
Cũng trong ngày hôm đó, ngay khi các bộ trưởng đang chuẩn bị ngồi vào bàn họp tại Viên, phi đội của Iraq đã tấn công vào hàng chục mục tiêu ở Iran mà không có bất kỳ lời cảnh báo nào trước. Quân đội Iraq bắt đầu tràn qua Iran dọc theo một mặt trận rộng lớn, dùng pháo hạng nặng để đánh vào các thành phố và cơ sở trọng yếu của Iran. Chiến tranh nổ ra, một lần nữa lại làm rung chuyển vịnh Ba Tư, đẩy hệ thống cung cấp dầu mỏ lâm vào tình trạng nguy cấp, đe dọa gây nên cú sốc dầu mỏ lần thứ ba.
Trong hàng tuần liền trước thời điểm ngày 22 tháng 9 đã xảy ra nhiều vụ xô xát dọc theo biên giới Iraq - Iran. Thực chất, chiến tranh đã leo thang kể từ hồi trước tháng 4. Với mối xung đột đã tồn tại từ lâu giữa Iraq và Iran, người ta cho rằng cuộc chiến hiện tại giữa hai nước đơn giản chỉ là tái hiện lại những cuộc chiến trong lịch sử cách đây gần năm nghìn năm về trước trong buổi sơ khai của nền văn minh Lưỡng Hà. Khi đó, những người lính từ Mesopotamia, mà bây giờ là Iraq và Elam - Iran ngày nay, đã tàn sát lẫn nhau.
Một bài thơ cổ viết về cảnh bi ai của thành phố Ur vĩ đại, ngạo nghễ một thời, nơi mà những bức tường thành được xây cao “ngang với đỉnh núi lấp lánh ánh Mặt trời”, đã bị cướp bóc, tàn phá bởi quân đội của Elam bốn nghìn năm về trước.
"Xác người, không phải mảnh vỡ
Phủ đầy lối đi
Những khối tường đổ
Những cổng cao, những con đường
Chất đầy tử thi
Bên hè phố, nơi đám đông đáng lẽ đang tụ tập
Họ nằm đó
Thân thể ruỗng nát dưới ánh Mặt trời"
Cảnh tượng trên không khác gì 4.000 năm sau khi người Mesopotamia và người Elam xung đột lẫn nhau trên những vũng lầy và sa mạc bỏng rát nơi xưa kia đã xảy ra cuộc chiến giữa tổ tiên họ.
Chiến tranh bị khơi mào bởi sự mâu thuẫn giữa sắc tộc và tôn giáo, chính trị và kinh tế, chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa cá nhân; bởi sự tranh giành quyền lực ở Vùng Vịnh; bởi sự không bền vững của các khối liên kết trong nước; bởi quan niệm độc đoán về sự hình thành của “các dân tộc” và bởi sự biến mất của những đường biên giới ở vùng Trung Đông từng trải trên bản đồ của đế chế Ottoman. Nhưng, vấn đề địa lý mới là tâm điểm của cuộc xung đột.
Quốc vương Iran bất hòa với chế độ Ba’th ở Baghdad ngay từ khi đảng này lên nắm quyền vào năm 1986. Và một trong những vấn đề quan trọng giữa hai quốc gia là con sông Shatt-al-Arab và vùng châu thổ ở điểm giao hòa giữa hai con sông, sông Tigris và sông Euphrates của Iraq với một vài con sông khác của Iran. Con sông Shatt-al-Arab đã đóng vai trò là đường biên giới tự nhiên dài 120 dặm giữa hai quốc gia Iran và Iraq.
Với Iran sông Shatt-al-Arab không phải là duy nhất nhưng nó lại là tuyến đường quan trọng nhất dẫn ra vịnh Ba Tư. Nhà máy lọc dầu Abadan cũng được xây dựng trên vùng châu thổ lầy lội. Với Iraq, sông Shatt-al-Arab có ý nghĩa sống còn bởi nó là tuyến đường duy nhất dẫn ra biển. Toàn bộ đường bờ biển của Iraq chỉ kéo dài khoảng 23 dặm trong khi đường bờ biển của Iran dài 14 nghìn dặm.
Basra, thành phố cảng chiến lược của Iraq, cách hạ nguồn sông Shatt-al-Arab 50 dặm ngược lên phía trên và phải thường xuyên được nạo vét do mực nước nông và bị bồi nhiều phù sa.
Do vậy việc xác định chủ quyền con sông là vô cùng quan trọng. Những vấn đề khác đáng quan tâm nữa là cơ sở hạ tầng dầu mỏ của cả hai quốc gia bao gồm các mỏ khai thác, các trạm bơm, đường ống dẫn dầu, các phương tiện khai thác, thùng chứa dầu đều tập trung bên bờ sông Shatt-al-Arab.
Quốc vương Iran đã tính toán khá khôn ngoan khi cho xây dựng các đường ống dẫn dầu như một hình thức giao thông đường thủy cũng như làm đường mốc ngoài khơi ở đảo Kharg, vị trí có thể dùng làm nơi neo đậu cho tàu chở dầu. Về phần Iraq, mặc dù đường ống dẫn dầu qua Syria và Thổ Nhĩ Kì đã bị thay thế nhưng nước này cũng xuất khẩu được một lượng lớn dầu mỏ thông qua vùng hạ lưu hẹp của sông Shatt-al-Arab với vùng lân cận sát đó.
Quốc vương Iran và quân đội của Ba’th qua nhiều tuyên bố tranh chấp cuối cùng cũng đi đến một thỏa thuận được kí kết tại Algier vào năm 1975 và người đại diện phía Iraq là Saddam Hussein.
Xét về mặt chủ quyền con sông, Iran có lợi thế hơn. Người Iraq đã chịu từ bỏ tính cố chấp và chịu thừa nhận sau 40 năm rằng bờ phía đông của dòng sông đường biên giới tiếp giáp với Iran thuộc về Iran. Để đổi lại, quốc vương Iran đã đáp ứng một yêu cầu khẩn thiết khác của Iraq. Đó là đồng ý cắt giảm một phần đáng kể viện trợ cho người Kurds, một nhóm dân tộc thiểu số chiếm khoảng 20% dân số Iraq và hiện đang đấu tranh quyết liệt với chính quyền Ba’th để đòi quyền tự trị cho vùng đất chứa phần lớn chữ lượng dầu mỏ của nước này. Việc quốc vương Iran cắt giảm viện trợ là điều kiện sống còn đối với chế độ Ba’th. Baghdad đã không để lãng phí thời gian, lập tức tiến hành một cuộc phòng thủ có tính quyết định chống lại người Kurds chỉ sau 6 tiếng khi thông cáo chung với Iran được công bố ở Angiê.
Ba năm sau, năm 1978, Iraq đền đáp lại bằng một cử chỉ không mấy đáng kể. Theo yêu cầu từ phía Iran, Iraq trục xuất giáo chủ Ayatollah Khomeini, kẻ bị đi đầy ở Iraq trong 14 năm. Tuy nhiên những gì xảy ra sau đó lại biến cử chỉ này thành hành động không có lợi.