Trên khắp thế giới, thời kỳ từ khoảng năm 800 đến năm 1200 là một trong những thời kỳ thay đổi sâu sắc nhất - thời điểm mà tác động của tái tổ chức khí hậu được tăng cường do thiếu hụt hoạt động của các núi lửa chủ yếu.
Việc di cư đến các vùng miền mới, sự phát triển các kỹ thuật tưới tiêu mới và mở rộng sản xuất nông nghiệp chỉ là một vài chiến lược được áp dụng và điều chỉnh để đối phó với một loạt vấn đề mới và khác nhau ở các khu vực khác nhau.
Trong một số trường hợp, trao đổi sinh thái đã tạo ra những hệ quả lớn. Ví dụ, việc nông dân Trung Quốc đưa vào trồng giống lúa chiêm (Champa) trổ bông sớm, chịu hạn tốt sau một đợt hạn hán xảy ra ở lưu vực sông Trường Giang và Quái Thuỷ đầu thế kỷ 11 và được cho là chìa khoá mang lại tính bảo đảm cao hơn những cú sốc thời tiết trong tương lai; giống lúa mới không chỉ giúp đảm bảo lượng calo được tiếp nạp và nuôi sống được nhiều người hơn, mà qua đó tạo điều kiện cho sự ổn định chính trị.
Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi đây cũng là thời điểm mà một loạt các biện pháp can thiệp khác vào cảnh quan tự nhiên được thực hiện ở Đông Á, bao gồm việc xây dựng các công trình thủy lợi lớn, xây đập và phá rừng để mở mang các khu vực mới dành cho sản xuất nông nghiệp.
|
| Con người đã xây dựng nên những cảnh quan kỳ vĩ trong những điều kiện khí hậu thuận lợi. Ảnh: IStock. |
Mở rộng kinh tế, sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng dân số không chỉ là chủ đề ở nhiều khu vực châu Á, châu Phi và châu Mỹ mà còn ở cả châu Âu, nơi mức độ dân số cũng nhảy vọt, với ước tính vào thời kỳ đỉnh điểm, tức từ khoảng năm 800 đến năm 1200, dân số đã tăng gấp ba hoặc thậm chí gấp bốn lần.
Một số sử gia lưu ý rằng điều này đã khơi mào cho một cuộc đua giữa con người với hoàn cảnh sinh thái và môi trường sống của họ, trong đó hoàn cảnh sinh thái phải vật lộn để đuổi kịp nhu cầu của số lượng người ngày càng tăng mà gần như chắc chắn sẽ kết thúc trong trạng thái khủng hoảng.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết không phải là tổng số lượng nhân khẩu mà là phân bố dân cư và mật độ dân số. Các thành thị như Hàng Châu và Khai Phong thường được cho là nơi sinh sống của một triệu người, và mặc dù những ước tính như vậy vừa tròn trịa thuận tiện vừa đặc biệt lớn, thì vẫn rất khó phủ nhận được thực tế rằng đây là nơi sinh sống của một lượng không nhỏ cư dân.
Giống như các thành phố lớn khác ở các khu vực khác và trong các giai đoạn lịch sử khác, nhu cầu thiết thực của cư dân - về thực phẩm, nước và nhiên liệu, chưa kể đến hàng hoá xa xỉ - là rất lớn và không chỉ gây căng thẳng cho các nguồn tài nguyên sinh thái mà còn đòi hỏi các chuỗi cung ứng thực sự hiệu quả và mạnh mẽ.
Đây là một vấn đề đối với những địa điểm như Pagan chẳng hạn, nơi mà sau này được gọi là Arimaddana-pura (nghĩa là “Thành phố đè bẹp mọi kẻ thù”), từng phải đối mặt với ngập úng do nước biển và hiện tượng bồi lắng sông xảy ra thường xuyên.
Tại Angkor, một thành phố có 3.000 ngôi đền, bao gồm khu quần thể Angkor Wat tráng lệ, một hệ thống hồ chứa và kênh rạch phức tạp giúp tích trữ và phân phối nước ngọt, đã giúp cung cấp nước cho người dân cũng như tưới tiêu cho các ruộng đồng tại địa phương.
Những công trình này không chỉ phụ thuộc vào một lượng lớn nhân lực xây dựng, mà còn cần được bảo trì liên tục để ngăn chặn cát và mảnh vụn làm tắc nghẽn các kênh đào.
Điều này đồng nghĩa với chi phí lao động lớn và cần có sự giám sát, phối hợp, cũng như các kỹ năng về mặt kỹ thuật.
Hệ thống tưới tiêu được thiết kế để giảm thiểu loại rủi ro này, nhưng khi làm như vậy lại vô tình gây ra những rủi ro khác: bất kỳ sai sót hoặc thách thức nào đối với quyền gây ảnh hưởng đến sinh kế của người dân cũng như khả năng sinh tồn của thành phố đó.