Người ta có thể làm rất nhiều điều với một đứa trẻ trong hai năm đầu đời: Nó có thể bị nhào nặn, bị chi phối, được dạy những thói quen tốt, bị quở trách và trừng phạt mà không hề có bất kỳ hậu quả nào cho người nuôi dạy, và đứa trẻ cũng không thể trả đũa.
Đứa trẻ chỉ có thể vượt qua những hậu quả nghiêm trọng từ sự bất công mà nó phải gánh chịu nếu nó bảo vệ được chính mình, nghĩa là nếu nó được phép bày tỏ nỗi đau và sự tức giận của mình.
Nếu đứa trẻ bị ngăn không cho phản ứng theo cách riêng của nó, vì cha mẹ không chịu nổi những phản ứng đó (khóc lóc, buồn bã, giận dữ) và tìm cách cấm đoán bằng ánh mắt hay những phương pháp giáo dục khác, thì đứa trẻ sẽ học cách im lặng.
Sự im lặng này vừa là dấu hiệu cho thấy các nguyên tắc giáo dục đã phát huy tác dụng, mà đồng thời cũng là tín hiệu nguy hiểm, báo trước sự phát triển bệnh lý trong tương lai.
Nếu một người hoàn toàn không có khả năng phản ứng thích hợp trước tổn thương, sỉ nhục hay ép buộc, thì những trải nghiệm này không thể tích hợp vào nhân cách; những cảm xúc do chúng khơi lên sẽ bị kìm nén, và nhu cầu bày tỏ những cảm xúc ấy vẫn không được thỏa mãn, không có hy vọng được giải tỏa.
Chính sự tuyệt vọng về việc không bao giờ có thể biểu đạt những sang chấn bị kìm nén qua các cảm xúc thích đáng thường gây ra các vấn đề tâm lý nghiêm trọng.
Chúng ta đã biết rằng chứng rối loạn thần kinh (neuroses) là hệ quả của sự kìm nén, chứ không phải do bản thân các sự kiện gây ra. Tôi sẽ cố gắng chứng minh rằng chứng rối loạn thần kinh không phải là hậu quả bi thảm duy nhất của sự kìm nén.
Quá trình kìm nén này không bắt đầu ở tuổi trưởng thành mà ngay từ những ngày đầu đời, như một hệ quả của những nỗ lực thường mang thiện ý của các bậc cha mẹ. Bởi thế, trong cuộc sống sau này, cá nhân ấy không thể lần ra gốc rễ của sự kìm nén nếu không có sự trợ giúp.
Điều đó giống như có ai đó đóng dấu lên lưng họ một dấu hiệu mà họ sẽ không bao giờ có thể nhìn thấy nếu không có một chiếc gương. Một trong những chức năng của trị liệu tâm lý chính là cung cấp chiếc gương ấy.
|
| Cha mẹ thường không nhận ra vấn đề nghiêm trọng khi trẻ không còn phản ứng. Ảnh: EpozytywnaOtipia. |
Quả thật, phân tích tâm lý vẫn là đặc quyền của một số ít người, và những thành tựu trị liệu của nó thường bị nghi ngờ. Nhưng sau khi đã tận mắt chứng kiến sức mạnh tâm lý được giải phóng mỗi khi những tác động tiêu cực của cách nuôi dạy trẻ được hóa giải; và cũng thấy rằng nếu không được giải phóng, sức mạnh ấy sẽ bị dồn nén và huy động để phá hủy sự tự phát quý giá trong bản thân và người khác - chỉ vì sự tự phát ấy bị coi là xấu xa, nguy hiểm từ thuở nhỏ - tôi muốn truyền đạt với xã hội những gì tôi đã học được qua quá trình phân tích tâm lý.
Trong phạm vi có thể, xã hội có quyền được biết điều gì thực sự diễn ra trong phòng phân tích tâm lý, bởi những gì được phơi bày ở đó không chỉ là chuyện riêng của vài cá nhân bệnh tật, mà còn liên quan tất cả chúng ta.
Trong một thời gian dài, tôi luôn tự hỏi làm thế nào để có thể miêu tả một cách sinh động, chứ không chỉ đơn thuần mang tính lý thuyết, về những gì đã xảy ra với nhiều trẻ em trong những ngày đầu đời của chúng và những hậu quả mà điều đó gây ra cho xã hội.
Tôi thường tự hỏi làm sao có thể truyền đạt một cách tốt nhất cho người khác những điều con người đã khám phá ra về giai đoạn đầu đời của mình sau khi phải trải qua một quá trình tái dựng lâu dài và gian nan?
Ngoài khó khăn trong việc trình bày tài liệu này, còn có một vấn đề nan giải cũ: Một mặt là tôi phải cam kết giữ bí mật nghề nghiệp; mặt khác là niềm tin của tôi rằng các nguyên tắc đang áp dụng ở đây không nên là kiến thức đặc biệt của một số ít người trong cuộc.
Hơn thế nữa, tôi nhận thức được sự kháng cự của một bộ phận độc giả chưa từng trải qua quá trình phân tích tâm lý, cũng như cảm giác tội lỗi nảy sinh khi thảo luận về những hành vi tàn nhẫn, trong khi con đường dẫn đến sự tiếc thương và đau buồn vẫn còn bị phong tỏa. Vậy, phải làm gì với kho tàng kiến thức đầy đau đớn này?
Chúng ta đã quá quen với việc nhìn nhận mọi thứ mình nghe được qua lăng kính của các quy tắc và quy định về mặt đạo đức, đến mức đôi khi ngay cả những thông tin thuần túy cũng có thể bị hiểu lầm như một sự chê trách và do đó không hề được tiếp thu.
Chúng ta có lý do chính đáng để phản kháng trước những lời khuyên nhủ mới nếu chúng ta thường xuyên bị áp đặt các yêu cầu về đạo đức khi còn quá trẻ.
Tình yêu thương đồng loại, lòng vị tha, sự sẵn sàng hy sinh - những lời này nghe thật tuyệt vời biết bao, nhưng trong đó ẩn chứa sự tàn nhẫn, đơn giản vì chúng bị áp đặt vào một đứa trẻ tại thời điểm mà các điều kiện tiên quyết cho lòng vị tha không thể hiện diện.
Việc ép buộc thường bóp chết những điều kiện ấy ngay từ mầm mống, để lại một trạng thái căng thẳng kéo dài suốt đời. Điều này giống như một mảnh đất quá cằn cỗi để bất cứ thứ gì có thể phát triển, và hy vọng duy nhất để cưỡng ép ra tình yêu mà người ta đã bị đòi hỏi khi còn nhỏ lại nằm trong cách ta nuôi dạy chính con mình. Khi ấy, họ lại đòi hỏi từ con cái tình yêu thương theo cách tàn nhẫn như xưa.
Vì lý do này, mục đích của tôi là tránh mọi bài học đạo đức. Tôi chắc chắn không muốn khuyên ai đó nên hay không nên làm điều này hay điều khác (chẳng hạn như: không nên thù ghét), vì tôi coi những châm ngôn kiểu này là vô ích.
Thay vào đó, tôi thấy nhiệm vụ của mình là phơi bày gốc rễ của hận thù - điều mà dường như chỉ số ít người có thể nhận ra - và tìm kiếm lời giải thích vì sao lại có quá ít người nhận ra điều đó.