Ngày giỗ
Điều quan trọng nhất trong sự thờ phụng tổ tiên là cúng giỗ. Vậy ngày giỗ là gì? Ngày giỗ chính là ngày kỷ niệm người chết đã qua đời, còn thường được gọi là kỵ nhật.
Người chết sau khi được an táng theo phong tục lễ nghi, nằm yên dưới mộ, con cháu cũng phải dẹp sầu, dẹp nhớ thương để trở lại cuộc sống hàng ngày, nhưng hàng năm khi đến ngày người chết qua đời, con cháu dù bận rộn cũng phải nhớ để làm giỗ, nói làm giỗ chứ không nói cúng giỗ, vì chỉ những người theo các tôn giáo, có chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên mới cúng, còn những người thân đã chết, chỉ làm giỗ mà không cúng.
Trong ngày giỗ người ta làm cỗ bàn mời thân bằng quyến thuộc. Ở nhà quê, ngày giỗ là một dịp để gia chủ được mời lại những người đã từng mời mình đi ăn uống. Người ta gọi là “trả nợ miệng”.
Giỗ có thể làm to hoặc làm nhỏ, tùy theo gia cảnh, tùy theo con cháu đông hay vắng và nhiều khi lại tùy theo sự liên lạc giữa người sống và người chết.
Giỗ cha mẹ, giỗ ông bà thường làm to, giỗ anh em, chú bác cùng các vị cao tằng tổ khảo, tỷ, thường chỉ cơm canh cúng đơn sơ để khỏi bỏ giỗ. Trong những giỗ này người ta gọi là giỗ mọn, không có mời bạn bè thân thuộc, chỉ trong nhà cúng rồi ăn với nhau.
Tóm lại giỗ là ngày tưởng nhớ người chết qua đời có cỗ bàn cúng kiến tùy gia đình.
Trong ngày giỗ có phân biệt giỗ đầu, giỗ hết với những ngày kỵ nhật khác, gọi là cát kỵ.
|
| Đốt vàng mã là một phong tục lâu đời. Ảnh: Chinese American Family. |
Ngày giỗ đầu hay tiểu tường
Ngày giỗ đầu tức là ngày kỷ niệm đầu tiên của người chết, đúng một năm sau.
Ngày này còn gọi là ngày tiểu tường. Con cháu còn mang tang, sự đau đớn như còn ở trong tâm khảm người sống, và con cái còn đang thương cha mẹ, vợ đang thương chồng, cha mẹ đang thương con v.v...
Đúng vậy, một năm tuy thời gian có dài, nhưng chưa đủ hàn gắn vết thương đau, chưa đủ xóa bỏ mọi kỷ niệm giữa người sống và người chết, chưa đủ làm khuây khỏa được nỗi buồn mất một người thân của người sống.
Trong ngày tiểu tường, khi cúng tế người chết, người sống vận tang phục như ngày đưa ma, nhất là con cháu, để chứng tỏ với vong hồn người khuất nỗi nhớ thương chưa nguôi. Và con cháu, khi tế lễ cũng lại khóc như ngày đưa ma.
Ở những nhà khá giả, trong ngày tiểu tường có mời phường kèn để thổi kèn thờ từ bữa tiên thường cho đến hết ngày giỗ.
Những quần áo sô gai, mũ gậy trong đám tang, con cháu lại đem mặc trong ngày tiểu tường, phải áo sô mũ chuối và dùng gậy để lễ và đáp lễ khách khứa tới ăn giỗ lễ trước bàn thờ cha mẹ mình.
Đối với người xưa, sắc phục rất cần, sắc phục chứng tỏ lòng hiếu của con cái đối với cha mẹ. Ngày tiểu tường, các gia đình khá giả thường cúng rất lớn để mời khách khứa họ hàng làng nước.
Cũng trong dịp tiểu tường này, người sống thường sắm đủ mọi đồ dùng để đốt cho người chết: quần áo, giường màn, bát đĩa, gà vịt. Có khi cả xe cộ, thuyền bè. Tóm lại, tất cả những đồ dùng hàng ngày con người cần tới. “Dương sao, âm vậy”, ở cõi trần đã có thì cõi âm cũng phải cần.
Trong lễ đốt mã này, còn có cả hình nhân. Người ta tin rằng hình nhân bằng giấy đốt xuống cõi âm theo pháp thuật của một pháp sư sẽ “hóa” thành người hầu hạ người khuất.
[...]
Tục lệ đốt hình nhân này có nguồn gốc rất cổ xưa. Nguyên trước về thời đại phong kiến, khi một người đàn ông chết thì vợ cả, vợ lẽ đều tự sát ngay ở mộ, Những con hầu đầy tớ, chính là những nô lệ, cũng đều bị giết để chôn theo. Về sau bản tính tự vệ của con người đã khiến người ta nghĩ tới cách lấy hình nhân thế mạng.
Sự tin tưởng của con cháu ở nơi linh hồn ông cha bất diệt khiến người ta nghĩ đến sự đốt mã để trang bị cho người chết mọi thứ cần dùng cho “cuộc sống” hàng ngày ở cõi âm.
Với nếp sống văn minh ngày nay, có người cho rằng đốt mã là vô lý nhưng không muốn trái ý những người thân nên vẫn cứ đốt mã trong ngày giỗ với quan niệm rằng dù đó là một điều sai cũng không hề gì, còn nếu đúng thực, bỏ đi e mang tội.