|
| Sự ra đời của vaccine và các tiến bộ y học giúp hàng triệu trẻ sơ sinh sống sót. Ảnh minh họa: K.D. |
Trong khi nền y học tại thế giới Hồi giáo phát triển rực rỡ thì những gì diễn ra sau đó ở châu Âu lại thực sự là một thời kỳ đen tối. Nhiều kiến thức về giải phẫu và phẫu thuật bị thất truyền. Người ta dựa vào cầu nguyện và phép màu để chữa bệnh.
Các thầy thuốc thế tục biến mất. Thần chú, nước phép, lá số tử vi và bùa hộ mệnh được sử dụng rộng rãi. Việc giải phẫu thi thể bị hạn chế hoặc cấm hoàn toàn khiến những người hành nghề y không thể tiếp cận kiến thức trực tiếp về cơ thể người. Nghiên cứu y học gần như bị đình trệ.
Tình trạng này rất giống với những gì sử gia Edward Gibbon [1] mô tả về toàn bộ Đế quốc Đông La Mã, với thủ đô là Constantinople: "Trong suốt chiều dài mười thế kỷ, không một khám phá nào được tạo ra để nâng cao phẩm giá hay thúc đẩy hạnh phúc của nhân loại. Không một ý tưởng nào được bổ sung vào hệ thống tư biện của thời cổ đại và một chuỗi dài những môn đồ nhẫn nại đã lần lượt trở thành những kẻ giáo điều dạy dỗ cho thế hệ nô dịch tiếp theo".
Ngay cả trong giai đoạn tốt đẹp nhất, y học tiền hiện đại cũng không cứu được nhiều mạng người. Nữ hoàng Anne là vị quân chủ cuối cùng của triều đại Stuart tại Anh. Trong 17 năm cuối thế kỷ XVII, bà mang thai đến mười tám lần. Chỉ có năm đứa trẻ được sinh ra còn sống.
Chỉ một trong số đó sống sót qua độ tuổi sơ sinh nhưng cũng qua đời trước khi trưởng thành và trước khi nữ hoàng đăng quang vào năm 1702. Không có bằng chứng nào cho thấy bà mắc chứng rối loạn di truyền. Bà nhận được sự chăm sóc y tế tốt nhất mà tiền bạc có thể mua được vào thời đó.
Những căn bệnh từng cướp đi sinh mạng của vô số trẻ sơ sinh và trẻ em giờ đây đã được giảm nhẹ và chữa trị nhờ khoa học, thông qua sự phát hiện ra thế giới vi sinh, nhờ hiểu biết rằng bác sĩ và nữ hộ sinh cần rửa tay và tiệt trùng dụng cụ, nhờ dinh dưỡng, các biện pháp y tế công cộng và vệ sinh môi trường, kháng sinh, thuốc men, vaccine, phát hiện ra cấu trúc phân tử của DNA, sinh học phân tử và nay là liệu pháp gen.
Trong thế giới hiện đại ngày nay, các bậc cha mẹ có nhiều cơ hội hơn để chứng kiến con mình trưởng thành, lớn hơn rất nhiều so với người thừa kế ngai vàng của một trong những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới vào cuối thế kỷ XVII. Bệnh đậu mùa đã bị xóa sổ trên phạm vi toàn cầu.
Diện tích các vùng vẫn còn bệnh sốt rét hoành hành đã được thu hẹp đáng kể. Số năm sống kỳ vọng của một đứa trẻ được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu đều đặn tăng lên theo từng năm. Khoa học giúp Trái Đất nuôi sống nhiều hơn khoảng một trăm lần dân số so với vài nghìn năm trước và trong điều kiện ít khắc nghiệt hơn rất nhiều.
Chúng ta có thể cầu nguyện bên giường bệnh của người mắc tả hoặc có thể cho cô ấy uống 500 mg tetracycline mỗi 12 giờ.
(Vẫn còn một tôn giáo có gọi là “Khoa học Cơ đốc giáo” [2] phủ nhận thuyết vi trùng gây bệnh, nếu cầu nguyện mà bệnh không khỏi, những tín đồ ấy thà để con mình chết còn hơn cho chúng dùng kháng sinh).
Chúng ta có thể thử liệu pháp phân tâm học - thứ gần như hoàn toàn vô ích đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt, hoặc có thể cho anh ta uống 300 đến 500 mg chlozapine mỗi ngày. Các phương pháp điều trị bằng khoa học hiệu quả gấp hàng trăm, hàng nghìn lần so với những lựa chọn thay thế.
(Và ngay cả khi các lựa chọn thay thế trông có vẻ có hiệu quả, chúng ta cũng không thực sự biết chúng có đóng vai trò gì không: các trường hợp thuyên giảm tự phát, ngay cả với bệnh tả hay tâm thần phân liệt, vẫn có thể xảy ra mà không cần đến lời cầu nguyện hay trò chuyện theo liệu pháp phân tâm học). Từ bỏ khoa học không đơn thuần chỉ là từ bỏ máy lạnh, máy nghe nhạc CD, máy sấy tóc và siêu xe.
[1] Edward Gibbon (1737, 1794) là một nhà sử học và nghị sĩ trong Nghị viện Anh. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, The History of the Decline and Fall of the Roman Empire (Lịch sử suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã), đã được xuất bản thành sáu cuốn từ giai đoạn 1776 đến 1778. Tác phẩm này nổi tiếng với lối nói mỉa mai, sử dụng tư liệu gốc, sự bôi nhọ tôn giáo có tổ chức. Đây là cuốn sách đã gây ra một số tranh cãi giữa các nhà phê bình. - ND
[2] Một giáo phái Cơ đốc và phong trào chữa lành tâm linh do Mary Baker Eddy sáng lập vào năm 1879. Giáo phái này nhấn mạnh sức mạnh của lời cầu nguyện và sự hiểu biết tâm linh đối với việc chữa lành. Các tín đồ Khoa học Cơ đốc tin rằng thế giới vật chất là một ảo ảnh và sự chữa lành thực sự đến từ việc hiểu được tình yêu và quyền năng của Chúa.
Bình luận