Trong bối cảnh thế giới đang chật vật duy trì nguồn cung dầu từ Trung Đông, cựu Chủ tịch Hạ viện Mỹ Newt Gingrich đã gây chú ý khi đăng tải trên mạng xã hội một ý tưởng gây tranh cãi: sử dụng bom hạt nhân để mở một tuyến kênh đào mới, nhằm tránh các mối đe dọa từ Iran tại eo biển Hormuz.
“Thay vì mãi tranh giành một nút thắt cổ chai rộng khoảng 34 km, chúng ta có thể mở một tuyến kênh mới đi qua lãnh thổ thân thiện. Chỉ cần khoảng một chục vụ nổ nhiệt hạch là có thể tạo ra một tuyến đường thủy rộng hơn kênh đào Panama, sâu hơn kênh đào Suez và không bị đe dọa bởi các cuộc tấn công từ Iran”, ông Gingrich viết trên trang mạng xã hội X hôm 15/3, song chưa rõ ông có thực sự ủng hộ đề xuất này hay không.
Tuy nhiên, với những người từng chứng kiến giai đoạn Chiến tranh Lạnh, đây không phải là ý tưởng hoàn toàn xa lạ. Trên thực tế, cả Mỹ và Liên Xô từng nghiêm túc theo đuổi những dự án tương tự.
Chương trình nghiên cứu của Mỹ về ý tưởng xây dựng một kênh đào liên đại dương kết thúc vào năm 1977, thời điểm ông Gingrich bắt đầu bước vào sự nghiệp chính trị sau thời gian làm giảng viên lịch sử và môi trường.
|
| Một vụ nổ hạt nhân của Mỹ ở đảo Bikini, Thái Bình Dương, năm 1946. Ảnh: Photo12/Universal Images Group |
Tham vọng cải thiện thương mại và ảnh hưởng địa chính trị
Ý tưởng xây dựng một tuyến kênh mới để vận chuyển dầu từ Trung Đông xuất hiện từ hai thập kỷ trước đó, trong bối cảnh khủng hoảng kênh đào Suez. Năm 1956, Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez, vốn do Anh và Pháp kiểm soát. Việc kênh đào này đóng cửa kéo dài đã khiến giá dầu, trà và nhiều hàng hóa khác tăng mạnh tại châu Âu - khu vực phụ thuộc lớn vào tuyến vận tải này.
Trong bối cảnh đó, các nhà khoa học Mỹ đặt câu hỏi: liệu năng lượng hạt nhân có thể được tận dụng để mở một tuyến kênh thay thế qua “lãnh thổ thân thiện” hay không? Người nêu ra ý tưởng này là Edward Teller - cha đẻ của bom nhiệt hạch - cùng các đồng nghiệp tại Phòng thí nghiệm Bức xạ Lawrence ở Livermore, bang California.
Chính quyền Tổng thống Dwight D. Eisenhower khi đó đã thúc đẩy việc ứng dụng năng lượng nguyên tử trong sản xuất điện và vận hành tàu ngầm. Sau khủng hoảng Suez, Mỹ mở rộng chương trình “nguyên tử vì hòa bình”.
Dưới sự dẫn dắt của Teller, những người ủng hộ Dự án Plowshare đề xuất sử dụng “các vụ nổ hạt nhân vì mục đích hòa bình” để giảm chi phí cho các dự án đào đắp quy mô lớn và tăng cường an ninh quốc gia. Họ đặt ra viễn cảnh dùng bom hạt nhân để khai thác khí tự nhiên, xây dựng kênh đào, cảng biển hay đường xuyên núi với mức phóng xạ tối thiểu.
Một trong những kế hoạch khởi đầu là Dự án Chariot, nhằm tạo ra một cảng biển tức thời bằng cách chôn và kích nổ 5 quả bom nhiệt hạch tại một ngôi làng của người bản địa ở vùng tây bắc Alaska. Dự án này đã gây tranh cãi gay gắt, đồng thời thúc đẩy một trong những nghiên cứu môi trường đầu tiên về hệ sinh thái Bắc Cực.
Tham vọng kênh đào xuyên Trung Mỹ
Song song với đó, các nhà khoa học Livermore phối hợp với Công binh Lục quân Mỹ nghiên cứu khả năng dùng bom hạt nhân để xây dựng một tuyến kênh mới tại Panama. Trước lo ngại kênh đào Panama ngày càng lạc hậu với hệ thống âu tàu hẹp, giới chức Mỹ muốn xây dựng một kênh đào mới rộng và sâu hơn, không cần hệ thống nâng hạ tàu.
Một kênh đào ngang mực nước biển không chỉ tiếp nhận được tàu lớn hơn mà còn vận hành đơn giản hơn. Tuy nhiên, sự tồn tại của “Vùng Kênh đào” do Mỹ kiểm soát - nơi những công nhân người Mỹ và gia đình họ sinh sống từ đầu những năm 1900, đã khiến người Panama bất bình khi đất nước bị chia cắt.
Ý tưởng dùng bom hạt nhân khiến dự án trở nên khả thi về mặt tài chính. Động lực lớn nhất cho cái gọi là “kênh đào Panatomic” xuất hiện vào tháng 1/1964, khi các cuộc biểu tình chống Mỹ bùng nổ tại Panama. Tổng thống Lyndon B. Johnson sau đó đã đồng ý đàm phán với Panama và thành lập Ủy ban nghiên cứu kênh đào liên đại dương.
Ủy ban này, với ngân sách 17,5 triệu USD (tương đương khoảng 185 triệu USD hiện nay), đã xem xét hai tuyến: một ở miền đông Panama và một ở phía tây Colombia.
Tuyến tại Panama đi qua khu vực Darién với địa hình rừng rậm, cao tới 335 mét so với mực nước biển. Để đào tuyến này, các kỹ sư đề xuất sử dụng 294 thiết bị nổ hạt nhân, chia thành 14 đợt kích nổ, với tổng năng lượng tương đương 166,4 triệu tấn TNT. Con số này vượt xa sức công phá của Tsar Bomba – vụ thử vũ khí hạt nhân Liên Xô mạnh nhất lịch sử, với năng lượng khoảng 50 triệu tấn TNT.
Để giảm thiểu tác động phóng xạ và địa chấn, khoảng 30.000 người, trong đó một nửa là người bản địa, sẽ phải di dời. Báo cáo của ủy ban cho rằng đây là thách thức lớn nhưng “có thể giải quyết bằng ngoại giao, tuyên truyền và bồi thường”.
Ý tưởng điên rồ nhìn từ hiện tại
Đến cuối thập niên 1960, các nhà sinh học biển và tiến hóa bắt đầu cảnh báo những hệ lụy môi trường nghiêm trọng. Việc nối liền Đại Tây Dương và Thái Bình Dương lần đầu tiên sau 3 triệu năm bằng một kênh đào ngang mực nước biển có thể gây ra “cuộc xâm lấn sinh học hai chiều” giữa các hệ sinh thái.
Kế hoạch này bị hủy bỏ vào đầu những năm 1970, không phải vì lo ngại môi trường mà do nhiều yếu tố khác, bao gồm khó khăn trong việc thử nghiệm hạt nhân mà không vi phạm Hiệp ước cấm thử hạt nhân có giới hạn, cũng như áp lực ngân sách.
Dù vậy, các nghiên cứu đã giúp mở rộng hiểu biết về khu vực Trung Mỹ và hệ sinh thái tại đây. Chính các khảo sát cũng chỉ ra rằng cấu trúc đất sét ẩm tại Darién có thể khiến phương pháp nổ hạt nhân kém hiệu quả.
Tuy nhiên, những người ủng hộ Dự án Plowshare vẫn tin tưởng vào tương lai của “đào đất bằng vụ nổ hạt nhân”. Trong báo cáo năm 1970, họ dự đoán rằng một ngày nào đó, các vụ nổ hạt nhân sẽ được sử dụng rộng rãi trong các dự án xây dựng quy mô lớn. Quan điểm này cũng được Edward Teller nhắc lại trong bộ phim tài liệu “Nuclear Dynamite” năm 2000.
Ngày nay, khi nhận thức về tác hại nghiêm trọng của phóng xạ đã phổ biến, việc sử dụng bom hạt nhân để xây dựng kênh đào gần như không thể chấp nhận. Ngay cả trước khi bài đăng của ông Gingrich gây tranh cãi, truyền thông đã mô tả Dự án Plowshare bằng những từ như “kỳ quặc”, “điên rồ”.
Lý giải vận mệnh của các nền kinh tế
Mục Thế giới giới thiệu cuốn “Quốc gia thăng trầm: Lý giải vận mệnh của các nền kinh tế” được NXB Thế giới cho ra mắt vào năm 2018. Tác phẩm làm rõ sự phát triển và đi xuống của nền kinh tế thế giới từ cuối thập niên 1990 đến đầu những năm 2000. Cuốn sách vạch ra 10 quy luật để nhận diện về chu kỳ kinh tế dẫn đến vận mệnh tăng trưởng hay suy thoái của một quốc gia.
> Độc giả có thể xem thêm tại đây.


