Thoạt trông, có vẻ vô lý khi khẳng định rằng việc sản xuất những kim loại cần thiết để xây dựng một thế giới sạch hơn lại là một quá trình gây ô nhiễm. Tuy nhiên điều này có thể hiểu được: hầu hết người tiêu dùng đã quên những gì họ được dạy khi còn là học sinh trong các giờ học khoa học tự nhiên và hoá lý. Chúng ta cần cập nhật kiến thức của mình.
Để làm điều đó, chúng ta không cần phải quay lại ghế nhà trường, mà chỉ cần đến tiệm bánh mỳ gần nhất và mua một ổ bánh mỳ tròn là đủ. Mọi người đều biết những nguyên liệu cần thiết để chế biến một ổ bánh mì: một lượng bột mì vừa đủ, nước, một ít men và một chút muối. Một tảng đá với kích thước tương tự mà chúng ta khai thác từ mỏ cũng gần giống như vậy: nó chứa nhiều loại khoáng sản, chính là những nguyên liệu được “trộn” với nhau.
Chúng ta hãy cùng tiếp tục phép ẩn dụ. Bột mì tương ứng với phần đá sẽ bị loại bỏ. Nước là thành phần chúng ta quan tâm hơn: xét về mặt tỷ lệ, nó có thể tương đương với sắt, một khoáng sản dồi dào trong vỏ Trái đất. Tiếp theo là men, hiện diện với với liều lượng nhỏ hơn: nó giống như nickel, một “kim loại thứ cấp” hiếm hơn sắt.
Cuối cùng là nhúm muối: đây chính là các kim loại hiếm. Nồng độ của chúng trong vỏ Trái đất thấp đến mức không thể nhận thấy. Và không quá phóng đại khi nói rằng trong một khối đá, lượng kim loại hiếm chỉ tương đương một nhúm muối rắc lên ổ bánh mì.
Tuy nhiên, do đá hình thành từ các quặng đã kết hợp với nhau từ hàng tỷ năm trước nên các kim loại hiếm đã hoàn toàn hoà trộn vào đá, giống như hạt muối tan chảy vào bột bánh trong quá trình nhào nặn và nướng bánh. Việc chiết xuất chúng ra có vẻ là một nhiệm vụ điên rồ.
Tuy nhiên, qua nhiều thập kỷ nghiên cứu, con người đã phát triển các quy trình hoá học giúp điều này trở nên khả thi. Đó chính là công việc của những “pháp sư tập sự” Trung Quốc tại các mỏ ở tỉnh Giang Tây và nhiều nơi khác: họ đã tìm ra cách chiết xuất các kim loại hiếm ra khỏi phần còn lại của đá.
|
| Một hình ảnh hiện thực tàn khốc của việc khai thác đất hiếm. Ảnh: Los Angeles Times. |
Quá trình này, mặc dù được gọi là “tinh chế”, nhưng hoàn toàn không có sự tinh chế nào như cái tên của nó gợi lên. Nó đòi hỏi phải nghiền nát đá và sử dụng hàng loạt thuốc thử hoá học, chẳng hạn như axit sulfuric và axit nitric. ‘Đó là một quá trình lặp đi lặp lại”, một chuyên gia Pháp giải thích. Phải thực hiện vài chục quy trình mới thu được một lượng đất hiếm tinh khiết gần 100%.
Và đó chưa phải là tất cả: việc tinh chế mỗi tấn đất hiếm cần tới hơn 30.000 mét khối nước. Lượng nước này sẽ bị nhiễm axit và kim loại nặng trong quá trình sử dụng… Liệu chúng có được xử lý qua các trạm lọc trước khi thải ra sông, đất và mạch nước ngầm không? Rất hiếm khi. Trung Quốc lẽ ra có thể lựa chọn quy trình sản xuất sạch hơn, nhưng đó không phải là phương án được ưu tiên.
Trong toàn bộ quy trình sản xuất các kim loại hiếm ở Trung Quốc, hầu như không có công đoạn nào được thực hiện theo các tiêu chuẩn sinh thái và vệ sinh y tế cơ bản nhất. Khi các kim loại hiếm trở thành phần thiết yếu trong các công nghệ xanh và số hoá hiện đại nhất, những chất thải độc hại của chúng cũng đồng thời ngấm vào trong nước, đất, không khí, và thậm chí cả trong ngọn lửa của các lò nung - bốn yếu tố cơ bản cần thiết cho sự sống.
Hậu quả của ngành công nghiệp này đã trở thành một trong những ngành gây ô nhiễm nhất ở Trung Quốc - và cũng là một trong những ngành bí hiểm nhất. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu để nhìn rõ thực trạng này.
Chúng tôi đang ở Hàm Giang, cách những mỏ đất hiếm mà chúng tôi đã đã đi khảo sát cùng Wang Jing khoảng vài chục cây số. Ngôi làng này nằm gần một mỏ khác. Tuy nhiên, 90% dân làng đã bỏ đi, rời xa những đống đá phủ đầy muội đen u ám.
Dân làng giải thích rằng do các hoạt động khai thác không kiểm soát: “Chẳng còn gì mọc nổi khi chúng tôi gieo trồng nữa. Ruộng lúa đã trở nên cằn cỗi!”. Những người dân làng cuối cùng bám trụ tại làng thì giờ đây cũng phải chấp nhận số phận. “Chúng tôi có thể làm được gì?”, một cụ già than thở giữa bầu không khí đặc quánh và ngột ngạt.
“Thậm chí phàn nàn cũng chẳng ích gì.” Liệu chính quyền địa phương có biết gì về tình trạng ô nhiễm này không? “Tất nhiên rồi! Ngay cả các ông, dù chẳng cần ai nói, chắc các ông cũng đã tự thấy được tình trạng này ngay, không phải vậy sao?”