|
| Vào thế kỷ 16, đàn ông Ai Cập có thể bị ly hôn nếu không cung cấp đủ cà phê cho vợ. Ảnh minh họa: M.V. |
Cà phê tiếp tục lan rộng qua Ai Cập mà không vấp phải bất kỳ cản trở nào nữa. Món đồ uống này được đón nhận ở Damascus vào năm 1530 và ở Aleppo vài năm sau đó mà không hề bị phản đối. Người dân ở Constantinople lần đầu biết đến cà phê vào năm 1554, khi 2 người tên Schems (đến từ Damascus) và Heken (đến từ Aleppo) mở những quán cà phê đầu tiên trong thành phố.
Từ đó, cà phê nhanh chóng trở thành thức uống yêu thích nhất của mọi tầng lớp ở nơi này, "khách đổ xô đến chật kín các quán cà phê suốt đêm ngày, những tầng lớp nghèo hơn thậm chí còn xin tiền trên đường phố chỉ để mua được cà phê". Ngoài ra, ở Constantinople lúc bấy giờ, "việc từ chối cung cấp cho vợ một lượng cà phê nhất định mỗi ngày được chấp nhận là lý do chính đáng để ly hôn".
Thế nhưng, ở Constantinople cũng như ở Cairo, thói quen mới này đã khuấy động những ồn ào không hề nhỏ trong nhóm các giáo sĩ quyền lực và các nhà lãnh đạo chính trị, vì sự nổi tiếng của các quán cà phê khiến số người đến dự lễ tại các đền thờ ảm đạm đi thấy rõ, do đó dấy lên sự phản đối kịch liệt từ phía các hội dòng đối với món đồ uống mới này.
Họ bày tỏ nỗi bất bình với Sultan (vua các nước Hồi giáo). Vậy nên, đầu tiên, ông ra lệnh cấm, sau đó, đánh thuế thật nặng lên các quán cà phê, nhưng bất chấp tất cả, chúng vẫn tiếp tục phát triển và lan rộng.
Khi cà phê du nhập vào thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ, một sự đàn áp tương tự như ở Syria và Cairo cũng nhanh chóng xảy ra. Thứ thức uống này phải đối đầu với sự phản đối từ cả hai phía - tôn giáo lẫn chính trị - như thường lệ, phía tôn giáo vẫn khắc nghiệt và dữ dội hơn nhiều.
Các tu sĩ đủ thông tuệ để phát hiện ra: "Cà phê khi đem rang sẽ biến thành một loại than và than là một trong những chất mà nhà tiên tri của họ đã tuyên bố là không được đấng Allah định là thức ăn của con người", do đó họ hùng hồn phê phán nó với sự cuồng nộ vô hạn.
Cũng vì thế, các quán cà phê lập tức bị đóng cửa theo sắc chỉ của Su Amuret đệ tam. Tuy nhiên, những biện pháp cấm đoán này không thể duy trì lâu, vì vài năm sau một vị thống đốc có tư tưởng cởi mở hơn lên kế nhiệm và trấn an các tín đồ răng "cà phê rang không phải là than và không liên quan gì tới than cả".
Những quán cà phê lập tức được mở cửa trở lại và nhanh chóng tấp nập khách khứa như trước đây. Thế nhưng, mặc dù sự mê tín tôn giáo đã chịu nhường bước trước ảnh hưởng mê hoặc từ cảm giác thỏa mãn của giác quan - một sự đầu hàng không hề hiếm gặp - thì những phản đối về mặt chính trị lại không dễ bị dập tắt như thế.
Chính quyền đã đánh thuế nặng lên việc buôn bán và tiêu thụ cà phê, từ đó kiếm được một khoản thu khổng lồ.
Thế nhưng, với thói đa nghi cố hữu, tầng lớp cai trị không hài lòng với mức độ hạn chế đó và cho rằng hoặc tưởng rằng các quán cà phê là chỗ tụ tập của bọn bất mãn với chính quyền và là nơi nuôi dưỡng hành động nổi loạn.
Do đó, những "chốn nguy hiểm" này bị theo dõi sát sao bằng con mắt ngờ vực và một lần nữa bị Sultan ra sắc lệnh cấm. Tuy vậy, nếu nằm ở ngoại vi thành phố, các quán cà phê cũng không có gì đáng quan ngại và chúng cũng quá quan trọng với nguồn thu của nhà cầm quyền nên họ đành phải cho các quán cà phê tiếp tục mở cửa ở các khu vực khác của đế quốc.
Dần dà, sự đắn đo trong lương tâm và sự phản đối về chính trị cũng lắng xuống, việc sử dụng cà phê làm đồ uống không còn vấp phải cản trở từ chính trị hay tôn giáo nữa, ít nhất là trong đế quốc Ottoman.