|
| Cà phê đã nhanh chóng chinh phục người Ả Rập, nó giúp họ quên đi cái nóng gay gắt. Ảnh minh họa: C.C. |
Trong khi đó, theo một bản thảo tiếng Ả Rập hiện có thể tìm thấy tại Thư viện Quốc gia Paris, người Ả Rập đã biết dùng cà phê từ tận thế kỷ XIII. Tập tài liệu ngả màu ố của cà phê này kể rằng “vào khoảng giữa thế kỷ XV, một giáo sĩ Hồi giáo của Aden, khi trở về sau chuyến đi tới Ba Tư, đã đem theo một ít hạt cà phê rang”.
Ngoài ra, trong một chuyên luận xưa về cà phê do một vị tộc trưởng Ả Rập công bố năm 1566, tác giả khẳng định sự hiểu biết và cách sử dụng cà phê được đưa từ Abyssinia tới Ả Rập vào đầu thế kỷ XV, bởi một giáo sĩ Hồi giáo uyên bác và sùng đạo tên Djmaleddin Abou Elfager.
Theo tài liệu này, việc dùng cà phê làm đồ uống đã phổ biến trong cộng đồng người Abyssinia từ rất lâu đời, còn ở Ả Rập, khi mới du nhập, cà phê chỉ thay thế loại thức uống pha chế từ lá cây Dây gối (Celastrus).
Được vị giáo sĩ Djmaleddin Abou Elfager giới thiệu và sử dụng, món đồ uống này vang danh khắp vùng và cũng nhờ công ông khởi xướng mà chẳng mấy chốc cà phê đã được nhiều người trong nước ưa chuộng, “đầu tiên là trong nhóm các luật sư và chuyên gia, rồi tới sinh viên và học giả, dần dà thói quen này lan rộng đến các thợ thủ công và những người khác hay làm việc về đêm, rồi cuối cùng tới các lữ khách, vốn thường lên đường vào buổi tối để tránh cái nóng ban ngày”.
Sau một thời gian ngắn, ở Aden, người ta đã truyền tụng rằng “món nước này giúp thanh lọc máu, kích thích nhẹ nhàng để hỗ trợ tiêu trừ tình trạng bệnh dạ dày và làm hưng phấn tinh thần”. Nhờ được tán thưởng hết mực, cà phê nhanh chóng được đón nhận bởi nhóm người không cần phải thức đêm và chẳng bao lâu sau, theo M. Galland, “toàn bộ cư dân Aden đã trở thành tín đồ cà phê”.
Tính chất đặc biệt giúp đánh tan sự lờ đờ uể oải và đẩy lùi cảm giác buồn ngủ được các tín đồ của Muhammad tận dụng trong những buổi lễ tôn giáo kéo dài. Việc dùng cà phê để giữ tỉnh táo trong lễ cầu nguyện đã dấy lên làn sóng phản đối dữ dội từ bộ phận thích tuân thủ nghiêm ngặt giáo lý và bảo thủ trong giới giáo sĩ.
Cà phê bị họ xem là thức uống gây say sưa, do đó, bị cấm dùng theo như kinh Koran. Những người nghiện cà phê ở bất kỳ dạng thức nào sẽ phải ngay ngáy lo sợ trong lòng về những hình phạt đáng sợ khi vi phạm điều luật thiêng liêng.
Nhưng bất chấp mọi đe dọa về sự trừng phạt của Chúa trời hay mọi phương pháp được áp dụng để ngăn chặn sự lan tỏa của nó, thói quen uống cà phê vẫn lan truyền nhanh chóng trong nhóm tín đồ của Muhammad ở Ả Rập. Từ đó, ngành trồng cà phê cũng như việc cà phê được xem là món đồ uống quốc dân, đã gắn liền với Ả Rập, tương tự như trà với Trung Quốc vậy.
Từ Aden, việc sử dụng cà phê lan rộng tới Mecca, Medina và những thành phố, thị trấn khác của Ả Rập, sự hiểu biết và niềm yêu thích đối với món đồ uống này nhanh chóng truyền qua biên giới, tới Syria và Ba Tư. Quán cà phê công cộng mọc lên khắp nơi, có mặt tại nhiều nước khác thuộc vùng Tây Á.
Theo lời một chuyên gia, những quán này đã cung cấp “một chỗ thơ thẩn cho kẻ thư nhàn và một nơi nghỉ ngơi cho người bận bịu, một địa điểm để chính trị gia thuật lại tin tức trong nước, để nhà thơ cất giọng ngâm nga thi phẩm của mình và các giáo sĩ đạo Hồi thuyết giảng cho khách quen của quán”.
Thế nhưng, vào khoảng thời kỳ này, sự đam mê cà phê đã trở nên quá cuồng nhiệt, đặc biệt ở Syria, nên chính quyền đã thực hiện một nỗ lực nhằm kìm hãm, nếu không muốn nói là chặn đứng triệt để, sự gia tăng tiêu thụ cà phê của người dân.
Họ viện lý do là cà phê có “đặc tính gây say” nhưng thực tế lại là vì việc uống cà phê dẫn đến những buổi tụ tập xã hội đông vui, đi ngược lại với sự nghiêm khắc và lời răn của đạo Hồi. Từ Syria, việc sử dụng thứ “rượu nhẹ” (thuật ngữ được sử dụng thời đó) đã lan tới Cairo vào khoảng năm 1510 và cũng được đón nhận rất nồng nhiệt ở thành phố này, đến nỗi trong cùng năm, việc sử dụng cà phê bừa bãi đã bị cấm do tôn giáo, cũng là theo lệnh Khaine Beg, người cai quản thành phố lúc bấy giờ.
Trong tuyên bố cấm uống cà phê, ông lên án thức uống này một cách dữ dội, nói rằng nó “có tác dụng gây say và tạo ra những khuynh hướng sai lệch bị phê phán trong kinh Koran”.
Tuy nhiên, sắc lệnh này đã bị bãi bỏ bởi người kế nhiệm là Causin, không lâu sau khi ông ta giành được quyền cai quản thành phố. Tuy vậy, vào năm 1523, lại có một nỗ lực khác được thực hiện nhằm ngăn chặn việc dùng cà phê, theo lệnh đại giáo sĩ Abdallah Ibrahim.
Ông này chỉ trích mạnh mẽ việc uống cà phê trong một bài thuyết giảng tại đền Haffanaine, dẫn tới một vụ bạo loạn đã xảy ra trong đám đông quần chúng, các phe nhóm mang tư tưởng đối lập lao vào ẩu đả. Sheikh Obelek, một người rất khôn ngoan trong thế hệ và thời đại đó, đã tập hợp các giáo sĩ, bác sĩ và những người khác trong nhóm phản đối việc uống cà phê tại tư dinh của mình.
Sau khi kiên nhẫn lắng nghe những lời càm ràm của họ về cà phê, ông đã mời mỗi người một ly, làm gương bằng cách đích thân uống, rồi ông bảo bọn họ về, lịch sự rời đi không nói một lời. Nhờ hành động khôn khéo này, sự yên ổn đã được lập lại và từ đó về sau, cà phê được cho phép sử dụng ở Cairo.