Ngay từ lần đầu gặp mặt tôi đã biết cô ấy là định mệnh của đời mình. Nó giống như trở về nhà… chỉ là đến nơi mà tôi chưa từng đặt chân tới. Tôi chỉ là nắm lấy đôi bàn tay của cô ấy và đỡ cô ấy xuống xe. Thật kỳ diệu, đó là phép màu.
-Sam, Đêm trắng ở Seattle (1993)-
Trong chương trước, tôi đã thảo luận về việc phân tách tâm lý giống như một phương tiện để giải quyết những mâu thuẫn bên trong, liên quan đến những cảm xúc lẫn lộn hoặc những tâm cảm đối nghịch. Tôi cũng đã mô tả về sự phân tách thường thấy giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về bản chất con người.
Trong ví dụ về thời chiến, khi đó những người lính ở phía bên kia cuộc chiến là kẻ thù của chúng ta. Kết quả của sự phân tách này là chúng ta có xu hướng căm ghét kẻ thù và lí tưởng hóa, anh hùng hóa những người ở phe mình. Chương này sẽ xem xét cách thức lí tưởng hóa đi kèm với sự phân tách và cách nó hoạt động như một cơ chế phòng vệ đúng nghĩa.
Lí tưởng là một chuẩn mực của sự hoàn hảo, vẻ đẹp, sự xuất sắc và nó có nghĩa là nâng tầm những con người bình thường hoặc một cá nhân nào đó lên một hình mẫu hoàn hảo. Hầu hết chúng ta đều có một cái nhìn trực quan về vấn đề này. Chúng ta hiểu rằng nó liên quan đến những hi vọng hoặc kì vọng không thực tế và thường dẫn đến sự vỡ mộng.
Ví dụ dễ thấy nhất là trong tình yêu. Khi bắt đầu một mối tình mới, người bạn yêu thường tỏ ra là một người hoàn hảo, không có bất cứ khuyết điểm hoặc thiếu sót nào trong tính cách. Theo thời gian, khi sự lí tưởng hóa này mất dần đi, chúng ta sẽ nhìn thấy con người thật của họ. Nếu sự vỡ mộng quá lớn, nó có thể khiến mối quan hệ mới đó chấm dứt.
Ngoài việc lí tưởng hóa một con người, chúng ta cũng có thể lí tưởng hóa một trải nghiệm hoặc đôi khi là chính mình. Để lí tưởng hóa một trải nghiệm có nghĩa là khi bạn tin rằng trải nghiệm đó sẽ thỏa mãn mình một cách hoàn hảo, hoặc có thể giải quyết tất cả những vấn đề của bản thân. Ví dụ như khi những người xung quanh tin rằng mọi điều trong cuộc sống của bạn sẽ thật tuyệt vời khi điều gì đó xảy đến.
Lí tưởng hóa bản thân là khi ta tin rằng ta không có lỗi lầm hay chướng ngại nào về mặt tâm lý, hoặc xem bản thân mình không mấy khi gặp vấn đề hay thiếu sót gì so với thực tế. Những người ái kỉ luôn đặt nặng cảm giác tự ti vô thức về tổn thương bên trong mình, họ cố tin rằng bản thân mình hoàn hảo và xinh đẹp, được người khác ngưỡng mộ và ghen tị.
Tôi sẽ thảo luận về ba hình thức lí tưởng hóa về một người, về một trải nghiệm, về chính bản thân chúng ta một cách chi tiết xuyên suốt chương này.
|
| Lý tưởng hoá người yêu là một cách chạy trốn thực tế của nhiều người. Ảnh: Psychology Today. |
Cơ chế phòng vệ
Thoạt đầu, có vẻ như không mấy rõ ràng khi coi lí tưởng hóa là một cơ chế phòng vệ tâm lý. Chắc chắn đó là một khái niệm tâm lý quen thuộc, nhưng chính xác thì nó là một biện pháp phòng vệ như thế nào? Trong trường hợp nào nó đóng vai trò là một lời nói dối mà ta tự nói với mình để trấn an bản thân, xoa dịu nỗi đau?
Tương tự như việc phân tách hay đơn giản hóa các vấn đề mơ hồ, tổn thương của sự không chắc chắn hay lưỡng phân bên trong, lí tưởng hóa đưa ra một giải pháp đơn giản cho những khó khăn hay vấn đề mà vô thức cảm thấy bất lực hoặc quá đau đớn nếu phải đối mặt.
Một người bạn của bạn từng không ngừng yêu thương rồi ghét bỏ, anh ấy chuyển từ trạng thái say mê chìm đắm sang vỡ mộng cay đắng. Bạn có nhận thấy rằng anh ấy có xu hướng trầm cảm khi chia tay ai đó không? Bạn có thể nghĩ rằng trầm cảm là kết quả của nỗi thất vọng, nhưng trên thực tế, nó đã tồn tại từ trước đó. Sự thất bại của việc lí tưởng hóa như một biện pháp phòng vệ chống lại trạng thái trầm cảm càng khiến cho anh ta nhớ đến những cảm giác mà bản thân muốn trốn tránh.
Hay nói cách khác, một số người coi tình yêu lãng mạn giống như chất gây nghiện, là một liều thuốc chữa trầm cảm. Họ không đến với nhau vì một tình yêu đích thực, thứ họ khao khát là kết quả của tình yêu. Họ dùng tình yêu như để giải tỏa bản thân khỏi đau đớn và trầm cảm. Sự kết thúc của một mối tình và việc hết yêu sẽ kéo họ lại với thực tại, với những vấn đề mà họ từng hi vọng sẽ vượt qua được.
Sự thăng - trầm của một mối quan hệ lãng mạn gợi nhắc đến sự trồi sụt cảm xúc của chứng rối loạn tâm lý lưỡng cực hay căn bệnh ta vẫn thường gọi là bệnh rối loạn hưng - trầm cảm (thuật ngữ tôi thấy dễ hiểu hơn). Trên thực tế, chứng rối loạn hưng - trầm cảm và sự lãng mạn nối tiếp đều phản ánh đường dẫn tới trạng thái tâm trí lí tưởng hóa - mê đắm hoặc hưng cảm - để thoát khỏi cảm giác đau đớn bạn không thể chịu đựng nổi.
Bạn có thể quen với thuật ngữ hypomania (một loại “hưng cảm nhẹ”). Nó không quá nghiêm trọng và nguy hiểm như trạng thái hưng cảm thường thấy trong chứng rối loạn hưng - trầm cảm, tuy nhiên bản chất của nó tương tự thế.
Tình yêu lãng mạn được lí tưởng hóa đại diện cho một loại chứng cảm giác phấn khích tạm thời để che phủ nỗi buồn sâu kín.