Sự phá hủy tế bào gây ra các triệu chứng khác nhau, tùy thuộc vào mạch nào bị tắc nghẽn. Mặc dù ít nhất một nửa trong số cả tá nhánh của động mạch cảnh trong đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi tắc nghẽn, nhánh thường liên quan tới đột quỵ do thiếu máu cục bộ nhất là một nhánh trong đôi động mạch não giữa.
Động mạch não giữa (MCA) cung cấp máu cho hầu hết bề mặt bên của bán cầu não và một vài trung tâm nằm sâu bên dưới vỏ não. MCA nuôi dưỡng các vùng thần kinh cảm giác và vận động chính trên vỏ não - các khu vực tập trung vào cử động của tay và mắt, cũng như mô cảm giác chuyên biệt để nghe. Nó nuôi dưỡng khu vực có liên quan tới “các chức năng tinh thần cao hơn”, như nhận thức, tư duy tổ chức, vận động tự ý và phối kết hợp tất cả những khả năng này.
Ở bán cầu não trội hơn (bán cầu phải với những người thuận tay trái và bán cầu trái với 85% những người còn lại), MCA cung cấp dưỡng chất cho các vùng cảm giác và vận động ngôn ngữ. Thông tin cụ thể về cách phân bố địa lý này lý giải tại sao có quá nhiều nạn nhân đột quỵ đánh mất năng lực bày tỏ, hiểu được ngôn ngữ nói và viết.
Nhiều cơn đột quỵ MCA không phải do sự tắc nghẽn thực sự ngay tại chỗ gây ra mà là bởi những mẩu rơi ra từ lớp xơ vữa động mạch ở động mạch cảnh trong chính, hoặc từ tim dưới dạng những mẩu nhỏ của cục nghẽn hình thành đã lâu. Mẩu nhỏ rời ra sau đó trở thành một cục nghẽn (embolus).
Ở đây, chúng ta bắt gặp một thuật ngữ khác trong số các thuật ngữ do Rudolf Virchow đóng góp, từ tiếng Hy Lạp embolos, có nghĩa là cái nêm hoặc cái nút, có nguồn gốc từ hai từ mang nghĩa là “quăng hoặc ném vào”. Theo nghĩa đen, một cái nút đã bị quăng vào động mạch và bị dòng máu đưa đi trong cơ thể cho tới khi nêm vào phần co hẹp của mạch máu thì nó sẽ bít lại hoàn toàn.
Ở những trường hợp phổ biến hơn, khi hiện tượng bít lại không phải là do một cục nghẽn, thì nó là kết quả của sự hoàn thiện cuối cùng từ quá trình tích tụ xơ vữa động mạch. Ở cả hai trường hợp, mô được mạch máu này nuôi dưỡng ngay lập tức bị mất nguồn oxy và glucozơ, và trong vòng vài phút sẽ bị tổn thương đủ để gây ra các triệu chứng. Nếu tình trạng tắc nghẽn không được giải phóng nhanh chóng, vùng não đó sẽ chết do chứng nhồi máu.
Nếu ai đó định gọi tên nhân tố có mặt trong mọi cái chết, dù ở cấp độ tế bào hay cả hành tinh, thì chắc chắn nó sẽ là thiếu oxy.
|
| Mọi cái chết đều có một cái kết chung là thiếu ôxy. Ảnh: Siena Hospice. |
Bác sĩ Milton Helpern, người giữ chức Bác sĩ Pháp y trưởng của thành phố New York trong hai mươi năm, được cho là đã khẳng định điều đó khá rõ ràng trong một câu duy nhất: “Cái chết có thể do vô số bệnh tật và rối loạn khác nhau, nhưng trong mọi trường hợp, nguyên nhân sinh lý học cơ bản là sự đổ vỡ trong chu trình cung cấp oxy của cơ thể.” Nghe thì có thể rất đơn giản đối với một nhà hóa sinh lão luyện, nhưng tuyên bố này đã bao hàm tất cả.
Nhiều cơn đột quỵ quá nhỏ đến mức chỉ có một ít hoặc không có triệu chứng đáng kể tức thời nào để xác định điều gì đã xảy ra. Nhưng với thời gian, những cơn đột quỵ nhỏ này tích lũy lại, và bằng chứng của sự hủy hoại dần dần trở nên rõ ràng ngay cả với người quan sát hời hợt nhất. Walter Alvarez, bác sĩ lâm sàng vĩ đại của thế hệ trước ở Chicago, đã dẫn lời “một quý bà thông thái” từng nói với ông: “Thần chết cứ lấy đi của tôi từng chút một.”
Mô tả lâm sàng của ông chỉ ra rất rõ ràng:
Bà thấy rằng với mỗi cơn choáng váng hay chóng mặt hoặc rối loạn thì bà lại già thêm một chút, yếu thêm một chút, và mệt mỏi thêm một chút; bước đi của bà ngập ngừng hơn, trí nhớ của bà ít đáng tin hơn, chữ viết khó đọc hơn, và hứng thú với cuộc sống bớt tha thiết. Bà biết rằng trong mười năm hoặc hơn, bà đang bước từng bước xuống mồ.
William Osler được cho đã nói về những người bị phản bội bởi chính tuần hoàn não của họ rằng: “Những người này mất nhiều thời gian để chết ngang với để trưởng thành.”