|
|
Thí sinh tìm hiểu thông tin tuyển sinh đại học năm 2025 Ảnh: Như Ý/Tiền Phong. |
Năm 2015, lần đầu tiên Bộ GD&ĐT cho phép chứng chỉ IELTS từ 3.5 hoặc tương đương có thể thay thế cho môn ngoại ngữ và được tính thành điểm 10 môn ngoại ngữ trong xét tốt nghiệp. Từ năm 2016 đến nay, bộ nâng điểm IELTS tối thiểu lên 4.0.
“Vé vàng” để vào đại học
Một trong những trường đại học đầu tiên sử dụng chứng chỉ IELTS và tương đương trong xét tuyển sinh là ĐH Kỹ thuật Công nghệ TPHCM với việc mở rộng ưu tiên xét tuyển thẳng đối với học sinh có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế với số điểm cao.
Trường cũng sử dụng tối đa 20% chỉ tiêu các ngành đào tạo chất lượng cao giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh để xét tuyển thẳng thí sinh có chứng chỉ IELTS từ 5.5 trở lên.
Ở phía Bắc, ĐH Kinh tế Quốc dân cũng là trường đầu tiên (năm 2017) đưa chứng chỉ IELTS vào đề án tuyển sinh ở phương thức xét tuyển kết hợp, với mức điểm yêu cầu 6.5 trở lên.
Những năm sau đó, nhiều trường đại học bắt đầu sử dụng IELTS để xét tuyển theo hình thức quy đổi thành điểm thi tốt nghiệp, hoặc là điều kiện bắt buộc ở một số ngành, hoặc tính thành điểm khuyến khích... Đến năm 2025, chứng chỉ IELTS trở thành từ khóa trong hầu hết đề án tuyển sinh của các trường đại học cả nước.
Chỉ sau 10 năm, chứng chỉ IELTS đã tạo ra xu hướng trong tuyển sinh đại học tại Việt Nam. Từ kỹ năng ngôn ngữ, IELTS trở thành tấm “vé vàng” để vào đại học.
Việc được cộng từ 0,5-4 điểm từ chứng chỉ IELTS đã tạo khoảng cách khá rộng đối với nhóm đối tượng thí sinh khác. Trong khi đó, điểm ưu tiên khu vực đối với học sinh vùng đặc biệt khó khăn, nơi không có điều kiện học ngoại ngữ, tiếp cận khoa học công nghệ hiện đại, các kỳ thi riêng lại bị thu hẹp dần khi thí sinh đạt từ 22,5 điểm/tổ hợp xét tuyển.
|
| IELTS là hệ thống kiểm tra Anh ngữ Quốc tế với 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc và Viết. Ảnh: Telegraph. |
Trả lại đúng vị trí cho IELTS
IELTS là bài kiểm tra năng lực sử dụng tiếng Anh, không phải bài đánh giá tư duy Toán học, khoa học hay khả năng học đại học nói chung. Việc cộng thẳng điểm khuyến khích chứng chỉ ngoại ngữ vào tổng điểm xét tuyển dẫn tới một nghịch lý: Thí sinh có nền tảng học thuật trung bình nhưng sở hữu IELTS cao vẫn có thể vượt qua những thí sinh học lực tốt hơn nhưng thiếu điều kiện tiếp cận chứng chỉ quốc tế.
Điểm chuẩn vì thế không còn phản ánh đúng năng lực học thuật cốt lõi, nhất là với các ngành đòi hỏi tư duy toán - khoa học - công nghệ. Tuyển sinh đại học từ chỗ là khâu “gác cửa” chất lượng đào tạo, đang có nguy cơ bị chi phối bởi một yếu tố mang tính bổ trợ.
Ghi nhận từ thực tế cho thấy IELTS là chứng chỉ có chi phí cao, gắn chặt với điều kiện kinh tế gia đình, môi trường học tập và khả năng tiếp cận giáo dục chất lượng. Lợi thế này tập trung chủ yếu ở học sinh đô thị, trường chuyên, trường tư thục hoặc gia đình có khả năng đầu tư dài hạn.
Khi IELTS trở thành “vé ưu tiên” vào đại học hệ thống tuyển sinh vô hình trung chuyển từ đánh giá năng lực sang đánh giá khả năng đầu tư. Học sinh nông thôn, miền núi, vùng khó khăn, dù nỗ lực học tập, đạt kết quả tốt trong chương trình phổ thông lại bị đặt vào thế bất lợi. Đây là bất cập mang tính nguyên tắc, đi ngược tinh thần công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học mà các chính sách công luôn hướng tới.
Năm 2025, bức tranh tuyển sinh đại học bộc lộ bất cập cần được cơ quan quản lý giáo dục nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc. Cả nước có 141 thí sinh đạt điểm 10 môn tiếng Anh trong kì thi tốt nghiệp THPT nhưng có tới hàng chục nghìn thí sinh có chứng chỉ IELTS đạt điểm tương tự nếu quy đổi ra điểm tiếng Anh theo bảng quy đổi của các trường đại học.
Mặt khác, hiện nay, cách thức sử dụng IELTS trong tuyển sinh đại học thiếu sự thống nhất, trường cộng điểm, trường quy đổi, trường dùng làm điều kiện xét tuyển, với mức độ ưu tiên rất khác nhau.
Sự thiếu đồng bộ này không chỉ gây hoang mang cho thí sinh và phụ huynh mà còn tạo ra cuộc đua ngầm giữa các trường trong việc nới lỏng chính sách để thu hút thí sinh. Hệ quả là tuyển sinh không còn vận hành trên một mặt bằng chung về chuẩn mực đánh giá.
Như vậy, vấn đề không nằm ở bản thân chứng chỉ IELTS, mà ở phương thức sử dụng. Để hệ thống tuyển sinh vận hành công bằng và hiệu quả, IELTS cần được đặt lại đúng vị trí, là công cụ hỗ trợ đánh giá năng lực ngoại ngữ, có trần, có phân tầng hợp lý, gắn với ngành học phù hợp và nằm trong một khung chính sách thống nhất.
Chỉ khi đó, tuyển sinh đại học mới thực sự hướng tới mục tiêu cốt lõi tuyển đúng người, đúng năng lực, bảo đảm công bằng và chất lượng cho cả hệ thống giáo dục.
Năm 2026, ĐH Giao thông Vận tải quyết định bỏ quy đổi chứng chỉ IELTS trong xét tuyển đại học. Trường chỉ cộng điểm thưởng (thông báo sau).
PGS.TS Nguyễn Thanh Chương, Chủ tịch Hội đồng ĐH Giao thông Vận tải, chia sẻ đào tạo đại học là chọn những người có thể học tập đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng. Nhưng cũng còn góc độ đảm bảo bình đẳng trong giáo dục.
Nhà trường nhìn nhận khi xét tuyển chứng chỉ IELTS, sinh viên có đầu vào ngoại ngữ tốt. Vì vậy mỗi cơ sở giáo dục đại học có nhiều phương thức xét tuyển và mỗi phương thức sẽ có ưu thế với một nhóm thí sinh. Ông Chương cho rằng để đảm bảo công bằng cho thí sinh, cần hạn chế cộng điểm khuyến khích từ chứng chỉ IELTS.
Một số chuyên gia tuyển sinh đề xuất Bộ GD&ĐT ngoài quy định giảm điểm cộng chứng chỉ IELTS, cần có quy định cụ thể về việc quy đổi điểm IELTS, bao gồm quy định về quy đổi điểm trần, quy đổi cụ thể với điểm thi tốt nghiệp THPT, điểm trong học bạ THPT, điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển đại học nhằm tạo ra sự công bằng.
Chiến đạo giống cuộc đối thoại, gợi mở các câu hỏi của cuộc đời, giúp người trẻ chủ động định hướng nghề nghiệp, kiến tạo tương lai.
Eight - 8 cách làm chủ trí thông minh nhân tạo: “Đa số công việc mà công viên chức đang phụ trách cuối cùng đều sẽ bị thay thế bởi trí thông minh nhân tạo", cuốn sách này sẽ giải đáp câu hỏi đó.