Bộ lọc bản thân hay co mình lại?
Tôi sẽ không bao giờ quên cái đêm đông lạnh lẽo ấy, khi người hướng dẫn tính khí khác thường của tôi cầm theo một chiếc ghế và bắt đầu kéo lê khắp phòng. “Xin chào, rất vui được gặp cô.” Anh ta hào hứng nói với một người phụ nữ ở cử tọa. “Tôi vô cùng phấn khích khi có được buổi hẹn hò tuyệt vời này! Cô xinh quá đi thôi!”
Sau đó, anh ta thì thầm muốn tặng cô ấy một nụ hôn chúc ngủ ngon - và rồi đột nhiên, chiếc ghế bỗng bay lên khỏi mặt đất và chắn giữa khuôn mặt của cả hai. Như bạn có thể hình dung, người học viên lập tức “chia tay” với cuộc hẹn hò tưởng tượng hoàn hảo của mình.
Tiếp theo, người hướng dẫn lại tiếp tục kéo lê hai chiếc ghế quanh phòng. “Xin chào, rất vui được gặp cô. Tôi vô cùng phấn khích với buổi hẹn này.” Đêm đó, ít nhất bốn chiếc ghế đã gây ra bốn cuộc “chia tay”. Khóa học này nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Landmark (www.landmarkeducation.com) với chủ đề thảo luận chính: Cách chúng ta “tái chế” những mối quan hệ từng đổ vỡ.
Chủ tọa Diễn đàn Landmark giải thích rằng hành động kéo ghế là một ẩn dụ hoàn hảo cho “hành lý cảm xúc” của chúng ta, hay những thứ ta mang vác từ mối quan hệ này sang mối quan hệ khác. Một khi trải qua một tổn thương đau đớn, ta bắt đầu nhìn cuộc đời qua một lăng kính khác.
Có thể lăng kính của bạn lúc này thì thầm: “Tôi từng bị rũ bỏ ngay tại lễ đường”, đến lúc khác lại: “Tôi đã bị lừa dối bởi hai gã đàn ông.” Ai mà biết được; có khi lăng kính của bạn lại nói: “Chính tôi từng phản bội bạn đời của mình.” Và rồi bạn nhìn nhận mọi mối quan hệ qua lăng kính ấy - đặc biệt khi nhìn mình trong gương.
Những lăng kính nói trên không chỉ tô điểm cho mọi tương tác, mà đôi khi chúng còn khiến ta lạc lối hoàn toàn. Khi tự nhìn sâu vào bản thân, chúng ta cần phải thẳng thắn đối diện với những lăng kính lừa dối mà ta dùng để nhìn thế giới, cũng như nhận ra cách chúng cản trở ta xây dựng những mối quan hệ chân thật, sâu sắc với chính mình và với người khác.
|
| Chúng ta vô thức mang theo hành lý cảm xúc của những mối quan hệ cũ. Ảnh: Ahead App. |
Sự chối bỏ
Như đã đề cập ở phần đầu cuốn sách, một trong ba lý do chính khiến chúng ta không phát hiện ra được lời dối trá, đơn giản vì chúng ta không muốn làm vậy. Ai ai cũng đều có những sự thật mà bản thân không muốn đối mặt.
Có thể bạn nghi ngờ bạn trai ngoại tình, nhưng bạn đã 35 tuổi rồi và muốn sớm có con. Có thể bạn nghĩ nhân viên của mình đang biển thủ, nhưng người này lại giỏi giao tiếp với khách hàng, trong khi số tiền thiệt hại cũng không quá nhiều. Có thể bạn nghĩ chồng mình là người đồng tính, nhưng bạn không thể chịu nổi viễn cảnh đối chất với chồng sẽ tác động ra sao đến các con.
Trong một số lĩnh vực, người ta cố tình không để các giám đốc biết toàn bộ sự thật để họ có thể “chối bỏ một cách hợp lý” (plausible deniability) - họ không muốn biết những gì họ không muốn biết. Nhưng với người bình thường, “sự chối bỏ sự thật” đơn thuần là một cơ chế phòng vệ. Nó có thể ngăn cản chúng ta nhìn ra điều thực tế hiển hiện ngay trước mắt.
Paul Ekman thậm chí còn đặt tên cho hiện tượng này là “Hiệu ứng đà điểu”: Chúng ta chọn vùi đầu vào cát thay vì phải đối mặt với những sự thật khó nghe. Sự chối bỏ chính là “ông trùm” của các lăng kính ngăn trở chúng ta sống thật một cách thành thực.
Định kiến
Không ai trong chúng ta muốn tự nhận mình là người có tư tưởng phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, hay bất kỳ điều gì tương tự. Tuy nhiên, ngay cả những cá nhân có tư duy tiến bộ nhất cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những khác biệt. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng con người có khả năng đọc cảm xúc của người cùng chủng tộc chính xác hơn so với người khác chủng tộc.
Ta có khuynh hướng gán cho nhóm còn lại những trạng thái tâm lý phức tạp hơn, nhìn họ một cách toàn diện hơn, nhận ra nhiều chi tiết tinh tế ở họ, và ghi nhớ biểu cảm của họ lâu hơn. Công nghệ quét não cho thấy phần não bò sát - vùng hạch hạnh nhân, nơi trú ngụ những cảm xúc sâu thẳm nhất của mỗi chúng ta - thường phản ứng mãnh liệt hơn với biểu cảm sợ hãi ở những người cùng chủng tộc.
Một nghiên cứu khác phát hiện ra rằng cả người Nhật và người Mỹ da trắng đều trải qua hiện tượng tương tự - hoạt động não bộ tăng mạnh khi phản ứng với cảm xúc của người cùng chủng tộc so với người khác chủng tộc.
Khi được yêu cầu nhận diện cảm xúc bằng lời, cả hai nhóm đều đạt kết quả tốt hơn 10% khi nhận diện cảm xúc của những người cùng chủng tộc. Chúng ta có thể tuyên bố mình “không phân biệt màu da” - nhưng cách diễn ngôn này chỉ là một hình thức chối bỏ được xã hội chấp thuận.
Sự nhạy cảm với cảm xúc của người cùng chủng tộc không hẳn xuất phát từ tư tưởng hẹp hòi. Các nhà khoa học tin rằng chúng ta đã tiến hóa theo cách này vì có lẽ từng có thời chúng ta thiết lập liên minh chiến lược với những thành viên khác trong cùng một “nhóm”, do đó ta coi bất kỳ hành vi dối trá hay phản bội nào trong nội bộ nhóm là nghiêm trọng hơn và đe dọa đến sự sống còn của mỗi thành viên.
Nói cách khác, ta đặt ra những định kiến như vậy chính vì biết rằng mình cần đến người khác - và họ cũng cần đến ta. Điều đó không biện minh cho việc chúng ta được phép để thành kiến ảnh hưởng đến các quyết định, huống chi là những quyết định liên quan đến sự đáng tin hay trung thực của ai đó dựa trên chủng tộc.