|
| Tượng Nicolaus Copernicus ở thành phố Torun quê hương ông. Ảnh minh họa: C.H. |
Sinh ra ở Torun, Ba Lan, Nicolaus Copernicus lên 10 thì người cha là thương nhân của cậu qua đời. Cậu của Copernicus là Lucas Watzenrode, một chức sắc nhà thờ, đã đảm nhận việc dạy dỗ Copernicus với hy vọng cháu trai sẽ tiếp nối con đường của mình, trở thành giáo sĩ.
Mùa thu năm 1491, Lucas lúc này đã là Giám mục xứ Warmia đã tuyển Nicolaus Copernicus vào Đại học Kraków, ngôi trường ngày trước ông từng học, nơi tốt nhất ở mạn Bắc châu Âu về nghiên cứu thiên văn. Tại đó, Copernicus đã phát huy niềm đam mê cả đời đối với ngành thiên văn.
Copernicus đã bắt đầu việc học ở Kraków bằng một khóa về nghệ thuật, tập trung vào các bản dịch tiếng Latin các tác phẩm của Aristole cùng những nhận xét về các tác phẩm đó. Theo Aristole, Trái Đất và mọi vật trong thiên nhiên cấu tạo từ bốn nguyên tố: Đất, nước, không khí và lửa, còn trời cao hoàn hảo và bất biến kia lại cấu tạo từ nguyên tố thứ năm là ete.
Aristole dạy rằng các thiên thể trong thiên cầu ete chuyển động theo đường tròn. Copernicus cũng học hình học, ông tập trung vào tác phẩm của Euclid và những phép đơn giản hóa các mô hình thiên văn học của Claudius Ptolemy.
Mô hình chuyển động hành tinh của Ptomely cần có hai đường tròn. Mỗi hành tinh được cho là chuyển động theo một đường tròn nhỏ gọi là ngoại luân, và ngoại luân này quay theo một đường tròn lớn xung quanh Trái Đất gọi là chính đạo.
Khi chuyển động lùi của hành tinh trên ngoại luân nhanh hơn chuyển động tiến của ngoại luân trên chính đạo thì người quan sát trên Trái Đất sẽ thấy hành tinh chuyển động nghịch, nghĩa là lùi về phía sau, so với các ngôi sao xa tít trên bầu trời.
Mô hình Aristole- Ptomely giả định rằng các hành tinh quay quanh Trái Đất, còn Trái Đất thì cố định tại tâm của vũ trụ. Mô hình mang tính cách mạng của Copernicus sẽ đối chọi với mô hình này.
Năm 1495, sau bốn năm ở Kraków, Copernicus quay trở về Frombork mà không lấy được bằng cấp. Frombork là một thị trấn trên bờ biển Baltic, mạn đông bắc của đất nước, nơi đặt trụ sở hội đồng giám mục Warmia và có nhà thờ chính tòa. Khi xuất hiện ghế trống trong bộ máy hành chính của nhà thờ, Lucas đã đề bạt cháu mình.
Vị trí đó có sự tranh giành, nhưng trước khi quyết định cuối cùng nghiêng về phía Nicolaus, Lucas đã cử Nicolaus tới trường Đại học Tổng hợp Bologna để học giáo luật - tức cách cai quản giáo hội.
Trong thời gian ở Bologna, Copernicus làm trợ lý cho một giáo sư thiên văn nổi tiếng là Domenico Maria Novara da Ferrara. Anh mang theo mình một bản in của cuốn Các bảng biểu thiên văn Alphonsine được lập ra cho Vua Alfonso X của Tây Ban Nha vào thế kỷ 13, gồm những số liệu để tính toán vị trí của Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh so với các ngôi sao cố định, trong đó có ghi những chú giải của chính anh.
Copernicus cũng kiếm được một cuốn tóm lược (in năm 1946) tác phẩm Almagest của Ptolemy - một khảo luận toán học và thiên văn học đề xuất những chuyển động phức tạp của các sao và đường đi của các hành tinh - do Regiomontanus viết (Regiomontanus là tên gọi theo tiếng Latinh của một nhà toán học và thiên văn học Đức đã mất trước đó hai chục năm).
Copernicus băn khoăn khi thấy các quỹ đạo hành tinh của Ptolemy và những quan niệm lý tưởng về sự hoàn hảo hình học của Alristorle không khớp nhau, điều mà cả Ptolemy lẫn các nhà thiên văn Ả Rập và Do Thái thời trung đại ở Tây Ban Nha đều băn khoăn.
Sau bốn năm Copernicus rời Bologna, một lần nữa lại không có bằng. Anh dành ít tháng đi du ngoạn Rome, nơi đang tổ chức kỷ niệm 1500 năm đạo Ki-tô [...].
Năm 1501, Copernicus xin tăng hội nhà thờ ở Warmia cho mình thêm hai năm học nữa tại Italy và hứa sẽ sử dụng kiến thức y học đã học được ở Padua để chữa trị cho giám mục và các thành viên của tăng hội.
Năm 1503, Copernicus trở về Warmia mà không có bằng cấp về y học nhưng có bằng tiến sĩ về giáo luật của trường Đại học Ferrara. Giờ đây anh đã nhận lãnh trách nhiệm về giáo luật, nhưng vẫn làm thư ký và thầy thuốc riêng cho người cậu của mình trong bảy năm. Cậu của Copernicus mất năm 1512.