Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Tri thức trực tuyến nếu mạng chậm. Đóng

Mini Magazine

Giá vàng lao dốc thủng mốc 145 triệu đồng/lượng

Giá vàng miếng và vàng nhẫn cùng giảm mạnh trong phiên giao dịch sáng nay (24/9), hiện đã rớt xuống dưới vùng 145 triệu đồng/lượng.

Trong phiên giao dịch sáng nay (24/9), Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng miếng ở mức 141,9 - 144,9 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 600.000 đồng so với giá chốt phiên liền trước (23/9).

Cùng giờ sáng, các thương hiệu vàng lớn khác như CTCP Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), Tập đoàn Phú Quý, Tập đoàn DOJI, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải... cũng đồng loạt giảm giá mặt hàng này về vùng dưới 145 triệu đồng/lượng.

Riêng Công ty Mi Hồng sáng nay giữ nguyên giá giao dịch vàng miếng so với chốt phiên ngày hôm qua, hiện neo tại 142,7 - 144,2 triệu đồng/lượng.

Diễn biến tương tự cũng ghi nhận với mặt hàng vàng nhẫn. Công ty SJC hiện đưa giá vàng nhẫn 9999 loại 1-5 chỉ về mức 141,4 - 144,4 triệu/lượng, giảm 600.000 đồng mỗi lượng so với phiên trước.

Tập đoàn DOJI và Phú Quý cũng giảm nửa triệu đồng đối với sản phẩm vàng nhẫn tròn. Sau điều chỉnh, vàng nhẫn tròn trơn của Phú Quý giao dịch ở 141,7 - 144,7 triệu/lượng. PNJ hiện giao dịch vàng nhẫn quanh vùng 141,9 - 144,9 triệu/lượng. Tại Công ty Mi Hồng, vàng nhẫn 999 đi ngang ở vùng giá 142,7 - 144,2 triệu/lượng.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của Tập đoàn DOJI hiện giảm còn 141,5 - 145,5 triệu đồng/lượng; nhẫn tròn trơn Bảo Tín Minh Châu giảm về 141,8 - 145,8 triệu/lượng. Dù cũng bị điều chỉnh giảm vào sáng nay, đây vẫn là hai thương hiệu còn giữ giá vàng nhẫn trên mốc 145 triệu đồng.

GIÁ VÀNG MIẾNG LAO DỐC
Nguồn: SJC.
Nhãn 29/3 30/3 31/3 1/4 2/4 3/4 4/4 5/4 6/4 7/4 8/4 9/4 10/4 11/4 12/4 13/4 14/4 15/4 16/4 17/4 18/4 19/4 20/4 21/4 22/4 23/4 24/4 25/4 26/4 27/4 28/4 29/4 30/4 1/5 2/5 3/5 4/5 5/5 6/5 7/5 8/5 9/5 10/5 11/5 12/5 13/5 14/5 15/5 16/5 17/5 18/5 19/5 20/5 21/5 22/5 23/5 24/5 25/5 26/5 27/5 28/5 29/5 30/5 31/5 1/6 2/6 3/6 4/6 5/6 6/6 7/6 8/6 9/6 10/6 11/6 12/6 13/6 14/6 15/6 16/6 17/6 18/6 19/6 20/6 21/6 22/6 23/6 24/6 25/6 26/6 27/6 28/6 29/6 30/6 1/7 2/7 3/7 4/7 5/7 6/7 7/7 8/7 9/7 10/7 11/7 12/7 13/7 14/7 15/7 16/7 17/7 18/7 19/7 20/7 21/7 22/7 23/7 24/7 25/7 26/7 27/7 28/7 29/7 30/7 31/7 1/8 2/8 3/8 4/8 5/8 6/8 7/8 8/8 9/8 10/8 11/8 12/8 13/8 14/8 15/8 16/8 17/8 18/8 19/8 20/8 21/8 22/8 23/8 24/8 25/8 26/8 27/8 28/8 29/8 30/8 31/8 1/9 2/9 3/9 4/9 5/9 6/9 7/9 8/9 9/9 10/9 11/9 12/9 13/9 14/9 15/9 16/9 17/9 18/9 19/9 20/9 21/9 22/9 23/9 24/9
Giá mua vào triệu đồng/lượng 169.8 170.8 171.9 173.7 170 170 171.5 171.5 170.1 169.5 171 168.5 169.7 169.4 169.4 168.5 170 170 167.7 167.5 168.5 168.5 168.3 168.1 167.5 166.7 165.5 166.3 166.3 166.3 164.5 163 163 163 163 163 163.3 162 163 164.5 164.5 164.5 164.5 162.2 162.5 162 162 161 161 161 160.5 160.8 158.5 160.5 159 158.5 158.5 159 158.5 157.7 154.5 155.5 156 156 155.5 154.5 154 153 149.2 146.2 146.2 138.8 138.8 133.3 133.4 142.4 144 144 147 149.5 148.8 148.8 143.7 144.2 144.2 145.6 144 144 143.2 144 145.5 145.5 145 144 143.4 145.4 148.4 148.4 148.4 148 147 145.5 145.5 146.9 146.9 146.9 145.4 144.5 145.5 145.2 143.6 144.5 144.5 143 143.4 142 135 135.5 137.5 137.5 139 137.5 137.5 137.7 137.9 137 137 137.5 137.5 138.8 139.7 139.2 141 141 141.1 140.5 141.3 141.3 140.3 141 141 141.2 141.3 139.7 143 144 144.6 144.6 147 147.6 147.3 147 147.2 145.7 145.7 145.7 145.7 145.7 145.4 145.6 144.6 144.6 143.5 143.6 143.6 143.6 142.4 143 143 142.6 142.3 143.5 142.8 144.6 144.6 144.6 143.6 141.9 142.5 141.9
Giá bán ra
172.8 173.8 174.9 176.7 173.5 173.5 174.5 174.5 173.1 172.5 175 171.5 172.7 172.4 172.4 171.5 173.5 173.5 171.2 171 172 172 171.3 170.6 170 169.2 168 168.8 168.8 168.8 167.5 166 166 166 166 166 166.3 165 166 167.5 167.5 167.5 167.5 165.2 165.5 165 165 164 164 164 163.5 163.8 161.5 163.5 162 161.5 161.5 162 161.5 160.7 157.5 158.5 159 159 158.5 157.5 157 156 153.2 150.2 150.2 143.8 143.8 138.3 138.4 145.4 147 147 150.5 151.5 151.3 151.3 146.7 147.2 147.2 148.6 147 147 146.2 147 148.5 148.5 148 147 146.4 148.4 151.4 151.4 151.4 151 150 148.5 148.5 149.9 149.9 149.9 148.4 147.5 148.5 148.2 146.6 147.5 147.5 146 146.4 146 140 140.5 141.5 143 141.5 141.5 141.7 141.9 141 141 141 140.5 141.8 142.7 142.2 144 144 144.1 143.5 144.3 144.3 143.3 144 144 144.2 144.3 142.7 146 147 147.6 147.6 150 150.6 150.3 150 150.2 148.7 148.7 148.7 148.7 148.7 148.4 148.6 147.6 147.6 146.5 146.6 146.6 146.6 145.4 146 146 145.6 145.3 146.5 145.8 147.6 147.6 147.6 146.6 144.9 145.5 144.9

Giá vàng trong nước đi xuống trong phiên sáng nay chủ yếu chịu sức ép từ diễn biến giảm của giá vàng thế giới.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay đang trong xu hướng giảm mạnh, hiện đã rơi thủng mốc 4.300 USD/ounce, chủ yếu dao động quanh 4.283 USD/ounce, tức giảm 67 USD so với phiên trước.

Đà giảm của kim loại quý diễn ra trong bối cảnh đồng USD tăng lên mức cao nhất gần 2 tháng, sau khi dữ liệu cho thấy hoạt động kinh doanh tại Mỹ tăng tốc trong tháng 9, đạt tốc độ nhanh nhất trong hơn 5 năm qua.

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cũng tăng mạnh khi các số liệu mới nhất về chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) cho thấy nền kinh tế nước này vẫn duy trì sức mạnh. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm có thời điểm lên 5,135%, cao nhất kể từ tháng 7/2007 và ghi nhận mức tăng trong một phiên mạnh nhất trong hơn một năm trở lại đây.

Sau quyết định nâng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữa tháng này, một số quan chức Fed tiếp tục bày tỏ quan điểm ủng hộ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt. Chủ tịch Fed chi nhánh Richmond Tom Barkin và Chủ tịch Fed chi nhánh Boston Susan Collins đều ủng hộ quyết định tăng lãi suất trong tuần trước, trong bối cảnh áp lực lạm phát vẫn là mối lo ngại.

Theo công cụ FedWatch của CME, thị trường hiện định giá xác suất Fed tiếp tục tăng lãi suất vào tháng 10 ở mức 77%, tăng từ khoảng 60% trước đó. Xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 cũng được định giá ở mức 95%.

Trong khi đó, giá dầu thô Brent bật tăng lên trên 100 USD/thùng, làm gia tăng lo ngại về lạm phát và khả năng các ngân hàng trung ương tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ. Diễn biến này cũng tạo thêm sức ép lên giá vàng, vốn không tạo ra dòng tiền như các tài sản sinh lãi.

Kể từ khi xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran nổ ra cuối tháng 2, giá vàng và giá dầu gần như diễn biến trái chiều. Do đó, nếu căng thẳng tại Trung Đông tiếp tục đẩy giá dầu tăng cao, áp lực lạm phát có thể gia tăng, qua đó ảnh hưởng đến kỳ vọng chính sách tiền tệ và gây sức ép lên kim loại quý.

Tri Thức - Znews giới thiệu độc giả Tủ sách kiến thức kinh tế với đa dạng cuốn sách, câu chuyện trong lĩnh vực kinh doanh, kinh tế. Là nguồn tư liệu cho những người quan tâm và muốn nâng cao kiến thức trong lĩnh vực kinh tế. Những cuốn sách, câu chuyện trong Tủ sách không chỉ đơn thuần là những tác phẩm của tri thức mà còn chứa đựng bí quyết, kinh nghiệm quý báu từ các tác giả, nhà quản lý có uy tín và kinh nghiệm lâu năm trong ngành.

Đọc sách không chỉ giúp người đọc tiếp cận những kiến thức mới mà còn giúp mở rộng tầm nhìn và phát triển bản thân. Tủ sách kiến thức kinh tế mong muốn lan tỏa tri thức trong lĩnh vực kinh doanh, đồng thời phát triển văn hóa đọc cho người Việt.

Giá vàng miếng hồi phục nhưng người mua vẫn lỗ đậm

Giá vàng miếng SJC và vàng nhẫn vừa bật tăng thêm 600.000 đồng. Dù vậy, người mua vàng miếng lúc giá chạm đỉnh trong tháng này hiện vẫn lỗ khoảng 8 triệu đồng mỗi lượng.

Giá vàng thế giới vẫn yếu, dầu thô xuống mức thấp nhất 2 tuần qua

Dù có thời điểm tăng vụt lên 4.370 USD/ounce, giá vàng chịu nhiều sức ép và đã quay đầu giảm về vùng giá 4.343 USD/ounce. Giá dầu thô cũng giảm xuống mức thấp nhất 2 tuần qua.

Giá vàng trong nước đắt hơn thế giới 9 triệu đồng/lượng

Giá vàng trong nước sáng 22/9 đứng yên sau phiên giảm chiều qua, trong khi giá thế giới biến động quanh 4.346 USD/ounce. Chênh lệch giữa hai thị trường lên tới 9 triệu đồng/lượng.

Giá vàng lặng sóng

Giá vàng lặng sóng

0

Sau nhiều phiên biến động khó lường của tuần trước, giá vàng trong nước bất ngờ đi ngang trong 4 phiên giao dịch liên tiếp.

Hồng Nhung

Bạn có thể quan tâm