1. Tôi gặp chị Đặng Thị Phương Thảo lần đầu tiên vào năm 2004 khi báo Quân đội Nhân dân phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức Cuộc thi tìm hiểu kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Lúc đó, tôi đã rất ấn tượng với cách phát biểu rất nét, rất sắc của nữ Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đoàn khi chị đề xuất các biện pháp để cuộc thi tránh hình thức, thật sự hiệu quả. Đầu năm 2008, tôi nhận nhiệm vụ Tổng Biên tập báo Hà Nội Mới. Với sự kết nối của chị Phương Thảo, Trung ương Đoàn và báo Hà Nội Mới đã ký Chương trình hợp tác, trong đó trọng tâm là phối hợp tổ chức Cuộc thi tìm hiểu kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đó là hai cuộc thi tìm hiểu mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, có tiếng vang lớn, được sự hưởng ứng rất hào hứng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của đoàn viên thanh niên cả nước. Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đoàn Đặng Thị Phương Thảo đã có đóng góp tích cực, sáng tạo và rất tâm huyết vào thành công của hai cuộc thi này.
|
Qua công việc, chúng tôi càng quý trọng nhau. Cảm thấy chị Phương Thảo rất am hiểu báo chí, thỉnh thoảng tôi chuyển cho chị đọc một số bài viết của tôi trước khi đăng và thường nhận lại được những nhận xét, góp ý thẳng thắn và xác đáng. Tôi nói vui: “Tư chất này mà không làm báo thì quá phí”. Thế rồi, năm 2009, cứ như việc tìm người, chị được bổ nhiệm làm Phó Tổng biên tập báo Thanh Niên. Tôi thầm nghĩ các nhà lãnh đạo quả là có “con mắt xanh” khi quyết định như vậy. Còn bản thân tôi thì đầu năm 2010, đang ở Hà Nội Mới, lại được điều sang làm Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội. Gặp chị, tôi lại nói vui: “Thế là anh em mình đổi chiều nhé: em từ tuyên giáo chuyển sang báo chí, anh từ báo chí chuyển sang tuyên giáo”.
Trong 13 năm giữ chức vụ Phó Tổng biên tập báo Thanh Niên, chị Phương Thảo đã có nhiều đóng góp xuất sắc, góp phần để báo vừa đúng đắn, vừa có sự tươi mới, khí chất thanh xuân và sự tử tế. Đó là một trong những tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất, có thời điểm lên tới hơn 400.000 bản/ngày. Không chỉ mạnh về báo in, Thanh Niên còn là một trong những tờ báo ở Việt Nam thành công trong chuyển đổi số, các sản phẩm báo chí trên các nền tảng số có sức hút mạnh, lượng truy cập thuộc tốp đầu. Có một điều nữa tôi muốn nói thêm, trong hơn 6 năm tôi làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam, được giao nhiệm vụ đồng chủ trì giao ban báo chí với lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương) và Bộ Thông tin Truyền thông (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch), tôi nhận thấy một trong những lãnh đạo cơ quan báo chí thường có ý kiến sắc sảo, thoả đáng và xây dựng tại các cuộc giao ban là Phó Tổng biên tập báo Thanh niên Đặng Thị Phương Thảo. Đó là khi báo chí đối mặt với những vấn đề nóng, nhạy cảm, lãnh đạo các cơ quan báo chịu sức ép không nhỏ trước việc tìm cách thức xử lý sao cho phù hợp với yêu cầu chung của công tác tư tưởng nhưng vẫn phải bảo đảm được tính độc lập, sự không khoan nhượng, không chịu lùi bước trước cái sai, cái xấu, chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật của báo chí.
2. Mở đầu như thế để muốn nói rằng tôi đã không hoàn toàn ngạc nhiên khi nhận bản PDF cuốn sách Hạnh phúc từ những dấu trừ đã được trình bày khá hoàn chỉnh. Có chăng, tôi chỉ càng đọc càng ngỡ ngàng khi thấy chị Phương Thảo viết thật hay. Êm, nhẹ mà thấm. Dạt dào mà sâu lắng. Rạng rỡ mà dịu dàng. Bâng khuâng mà tràn đầy ánh sáng. Một trời đầy thương nhớ và hy vọng dâng đầy.
Nghề báo là một nghề đặc biệt. Một nghề nguy hiểm khi nói tới những thách thức và những rủi ro mà người cầm bút phải đối mặt. Nhưng dưới một góc độ khác, có thể coi nghề báo là một nghề giàu có. Giàu trước hết ở thông tin, giàu có ở vốn sống và sự trải nghiệm. Đại diện cho một tờ báo có uy tín, chị Phương Thảo đã có dịp tới thăm nhiều nước. Ở phần một cuốn sách có tên rất gợi, rất thanh xuân là Dặm dài mắt biếc, tôi nhận thấy, qua các bài bút ký từ Campuchia, Buhtan, Triều Tiên, Nhật Bản qua Nga, Ucraina đến Na Uy, Pháp, Đức, Ý, Thuỵ Sỹ, Anh rồi sang Cuba, Mỹ…, tới miền đất nào trong một thế giới rất đa dạng, phức tạp, còn nhiều xung khắc và đầy biến động dữ dội, ngòi bút của chị, một cách tự nhiên, vẫn tìm thấy được những góc bình yên, êm dịu cho tâm hồn được thư thái, nghỉ ngơi. Ở đây, chúng ta được đọc những trang văn đẹp, tràn đầy cảm xúc của một tâm hồn luôn hướng về ánh sáng và điều thiện.
Đi bộ thư giãn bên hồ Léman, nơi biên giới giữa Pháp và Thuỵ sỹ chạy ngang qua mặt hồ, chị viết: “Hồ này có hình dáng giống như trăng lưỡi liềm hay hình dấu phẩy, được hình thành từ sông băng Rhône…. Nước hồ trong và xanh ngắt, hàng đàn thiên nga trắng muốt lượn lờ ăn hạt từ tay khách du lịch. Trên mặt hồ là đài phun nước Jet d'Eau với vẻ đẹp hoành tráng, kỳ vĩ của những dòng nước khổng lồ, cao tới 140m. Khi cao điểm, tốc độ của giếng phun có thể đạt đến 220km/giờ, tạo ra một cột nước cao đến 150m với 7 tấn nước. Đứng từ xa hàng dặm nhìn lại, trong ánh nắng chiều đang thả từng giọt xuống mặt hồ, làn nước mỏng lung linh, phảng phất hình ảnh của một chiếc cầu vồng bảy sắc tuyệt đẹp, tựa như dải lụa mỏng manh đang phất phơ bay giữa trời xanh”.
Trong chuyến thăm thiên đường Bhutan, đất nước nhỏ bé 700.000 dân nằm trên dãy Himalaya hùng vĩ, kẹp giữa Trung Quốc và Ấn Độ, chị cung cấp một thông tin thú vị: Ở Bhutan, phụ nữ có thể lấy nhiều chồng nhưng chỉ có ông chồng đầu tiên có giấy tờ hôn thú. Đàn ông lấy vợ có thể đến ở rể, vì lý do gì mà chia tay nhau thì phải đền tiền cho phụ nữ. Ở Bhutan, hôn nhân không có đám cưới, ưng thì về ở cùng nhau nên cũng không có ly dị. Và đây là điều không phải ai cũng biết về “nơi bình yên như cổ tích”: Chuyện lập gia đình với người nước ngoài ở Bhutan rất khó khăn vì Bhutan không muốn sự pha trộn về văn hóa và tôn giáo. Ngay cả khi đã kết hôn, người nước ngoài cũng không được nhập quốc tịch Bhutan mà chỉ cấp visa hằng năm. Rồi chị ngẫm ngợi: “Những ngày ở Bhutan, sống chậm giữa mây trời bồng bềnh bay ngang cửa sổ, nghe dòng sông trong vắt ì ầm chảy, nhâm nhi chai bia Red Panda, ngắm những người dân Bhutan tay quay kinh luân, khuôn mặt hiền hòa hạnh phúc, hài lòng với cuộc sống để thấy cuộc sống mình đang sống cần được sắp xếp lại như thế nào. Hít thở thật sâu để chiêm nghiệm mình đang tìm kiếm điều gì giữa cuộc đời này”.
Ở không ít trang viết, chị Phương Thảo lại thể hiện một khả năng quan sát tinh tế kết hợp với việc cung cấp những thông tin chọn lọc ở dạng mà khi đọc ta mới vỡ oà “à, hoá ra là thế“. Đến Na Uy, ghé thăm nơi trao Giải Nobel Hoà bình, chị viết: “Sinh ngày 21-10-1833 ở Stockholm (Thụy Điển), Alfred Nobel là người phát minh ra tiền thân của vật liệu nổ. Chỉ từ một chi tiết khi người anh Ludvig của ông qua đời vào năm 1888, nhiều bài cáo phó đã nhầm lẫn và viết về cái chết của Alfred Nobel trong khi ông vẫn còn sống. Bản cáo phó trên một tờ báo Pháp viết:”Le marchand de la mort est mort “ (Nhà buôn cái chết đã chết) và tiếp tục viết: “Tiến sĩ Alfred Nobel, người đã trở nên giàu có sau khi phát minh ra cách thức giết con người nhanh chóng hơn bao giờ hết, đã qua đời ngày hôm qua”. Những dòng trên khiến Nobel thức tỉnh và lo ngại về việc ông sẽ được ghi nhớ ra sao sau khi ông chết, nên đã quyết định sử dụng toàn bộ tài sản của mình để trao giải thưởng cho những phát minh mang lại lợi ích cho nhân loại. Tất cả các giải thưởng Nobel được trao tại Stockhom, riêng Nobel Hòa bình được trao tại Oslo theo di chúc của Nobel và cũng chưa ai lý giải được vì sao lại như vậy. Tòa thị chính Oslo, địa điểm tổ chức trao giải Nobel hòa bình, vào tháng 10 hằng năm là một trong những tòa nhà nổi tiếng nhất của thủ đô này.”
Tôi muốn đề cập câu chuyện liên quan đến Giải Nobel Hoà bình như thế vì lúc này, thế giới đang gặp tai hoạ lớn khi đang phải hứng chịu hai cuộc xung đột quân sự tàn khốc ở Ucraina và ở Trung Đông. Mới gần đây, Tổng thống Mỹ Donald Trump còn hào sảng tuyên bố ông là người đã chấm dứt tới 9 cuộc xung đột, và đang làm mọi cách để chấm dứt cuộc chiến Ucraina, thì ngày 28-2 vừa rồi, chính ông đã ra lệnh cho quân đội Mỹ phối hợp với Israel tấn công dữ dội vào Iran, sát hại lãnh tụ tối cao và các nhà lãnh đạo khác của Iran, làm hàng nghìn dân thường vô tội thiệt mạng, trong đó nhiều nạn nhân là phụ nữ và trẻ em. Trước tình cảnh cuộc chiến với Iran chưa biết lúc nào mới kết thúc và cách kết thúc như thế nào, khi được một nhà báo hỏi: “Ông có nghĩ rằng người ta sẽ còn xét trao Giải Nobel Hoà bình cho ông nữa không” thì ông Trump trả lời: “Tôi không biết và cũng không còn quan tâm đến việc đó nữa”.
Trong lịch sử Giải Nobel Hoà bình từ trước đến nay, chỉ duy nhất có một người từ chối nhận giải thưởng danh tiếng này là ông Lê Đức Thọ của Việt Nam khi được trao cùng với Tiến sĩ Henry Kissinger của Mỹ sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh Việt Nam được ký kết năm 1973. Lời tuyên bố của ông Lê Đức Thọ lúc đó đã gây chấn động thế giới: “Không thể đánh đồng người chống xâm lược với kẻ xâm lược và khi trên đất nước Việt Nam, đồng bào tôi vẫn chết vì bom đạn”. Quả thực, với những gì đang diễn ra trên thế giới hiện nay, ngày càng thấm thía rằng chiến tranh và hoà bình là bài học đắt giá nhất, sống còn nhất đối với nhân loại nhưng đó lại là bài học khó thuộc nhất.
Khi nói về “chiếc ghế gãy huyền thoại” trong bài “Genève thông điệp hoà bình”, chị cho biết: “ Broken Chair là tác phẩm điêu khắc bằng gỗ của nghệ nhân người Thụy Sĩ Daniel Berset do thợ mộc Louis thực hiện tại Genève. Đó là một chiếc ghế khổng lồ với một chân bị gãy. Nó được trưng bày tại Quảng trường Các quốc gia, Genève, từ năm 1997. Chiếc ghế gãy được làm từ 5,5 tấn gỗ, cao 12m đến mặt ghế và khoảng 24m kể cả phần lưng ghế. Nó tượng trưng cho việc phản đối sử dụng mìn sát thương cá nhân và bom bi đồng thời là lời kêu gọi của xã hội dân sự gửi đến các vị lãnh đạo nhà nước khi họ ký kết Công ước cấm mìn sát thương (Convention d'Ottawa) vào tháng 12.1997 tại Ottawa (Canada)”.
Việt Nam là một trong những nước phải chịu những hậu quả nặng nề nhất của bom đạn và mìn sát thương. Khát vọng hoà bình, loại trừ đau thương tàn khốc do chiến tranh và xung đột là thông điệp được lan toả mạnh trong cuốn sách này.
Hiện còn ít người có dịp đến thăm Triều Tiên nên những điều chị Phương Thảo kể về chuyến thăm Bình Nhưỡng khá thú vị: Tàu điện ngầm Bình Nhưỡng vừa là phương tiện giao thông, vừa là công trình quân sự, được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước. Từ mặt đất đi 5 phút theo thang cuốn dốc thẳng sâu hút khoảng 100m sẽ tới các ga tàu điện ngầm. Cứ 4-5 phút có một chuyến và giá vé rất rẻ 5 won một người. Còn Tháp Chủ Thể được xây từ 225 ngàn khối đá trắng, với chiều cao 170m, riêng phần ngọn lửa nặng 45 tấn. Khải Hoàn môn Bình Nhưỡng khánh thành năm 1982 cao 80m, cao hơn Khải Hoàn môn Paris 10m. Giữa muôn trùng gian khó, người dân Triều Tiên vẫn nhẫn nại làm việc, tổ chức đời sống tinh thần đáng nể. Tòa nhà học tập lớn của nhân dân hay là Thư viện Quốc gia được xây dựng quy mô lớn và ở vị trí trang trọng của thành phố. Nhà hát nhạc giao hưởng sáng đèn hàng tuần và luôn kín chỗ. Tất cả trẻ em Triều Tiên đều được học âm nhạc và chơi một loại nhạc cụ. Đó là những thông tin về Triều Tiên mà người ta dường như không bao giờ thấy trên báo chí phương Tây.
Đến thăm Wíndsor, lâu đài của Hoàng gia Anh, có tới 628 phòng lớn nhỏ, hiện đang giữ kỷ lục là lâu đài lớn nhất thế giới có người ở, mỗi năm có khoảng 25 - 30 triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới ghé thăm, điều khiến chị quan tâm đặc biệt lại là 400 chiếc đồng hồ các loại được treo tại đây, trong đó chiếc lâu năm nhất đã gần 200 năm tuổi, mỗi chiếc đồng hồ đều có một vẻ sang trọng, tinh xảo riêng. Chị viết: “Trong sự tĩnh lặng thâm nghiêm của tòa lâu đài, những tiếng tích tắc nhịp thời gian như nối liền quá khứ, hiện tại và tương lai của vương triều Anh quốc”.
3. Hiện có khoảng hơn 5 triệu người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở các nước trên thế giới. Là người làm báo, đi đến nước nào chị Phương Thảo cũng tìm cách gặp gỡ cộng đồng người Việt. Trong cuốn sách này, chị đã dành những dòng ấm áp, thương mến để viết về họ. Đó là những trang viết sinh động về cuộc sống của người Việt tại Trung tâm INCENTRA ở ngoại ô Maxcơva của nước Nga – một biểu tượng của mối quan hệ hữu nghị hợp tác gắn bó giữa hai thủ đô Hà Nội và Maxcơva và Làng Thời đại ở thành phố Kharcov của Ucraina. Tôi may mắn được dự Lễ khởi công xây dựng INCENTRA vào mùa thu năm 2028 nhân chuyến thăm Maxcơva của đoàn lãnh đạo Thủ đô Hà Nội và thật vui khi đọc những điều tốt đẹp về trung tâm này.
Tôi rất xúc động khi chị viết về cuộc gặp nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng, người cha đã gắn bó cuộc đời với nước Nga chỉ với mục đích tìm lại cô con gái yêu thương đã thất lạc hơn 20 năm trước. Tôi và anh Nguyễn Huy Hoàng đều là cựu học sinh Trường chuyên Phan Bội Châu nổi tiếng xứ Nghệ. Câu chuyện anh thất lạc đứa con gái bé bỏng trên bãi biển nước Nga đã làm các thế hệ học sinh trường Phan và những người Việt ở Nga đau đớn, thổn thức bao nhiêu năm nay. Chi Phương Thảo cho biết, giờ đây, tóc đã bạc trắng nhưng anh Huy Hoàng vẫn là cầu nối cho những người cầm bút giữa Việt và Nga. Anh Hoàng vừa xuất bản cuốn sách Mưu sinh kể về những mảnh đời nơi đất khách, vẫn đang đau đáu với dự án dịch Truyện Kiều sang tiếng Nga. Anh Hoàng tin một ngày nào đó sẽ tìm thấy con gái mình như lời của nhà tiên tri Vanga.
Trắc ẩn trước những cảnh đời phiêu bạt của người Việt nơi xứ người, chị ghi lại một cuộc gặp tuy chỉ thoáng qua mà sao tôi cứ nhớ mãi. Hôm đó, chị vào một nhà hàng Trung Quốc nhỏ trên phố Dijon, cách Paris khoảng 310km. Vừa ngồi ấm chỗ bỗng nghe tiếng Nghệ An véo von. Đó là hai chàng trai phục vụ quê Diễn Châu vừa sang đây được 4 tháng. Lúc này cả thế giới bàng hoàng vì vụ 39 người Việt ta tử nạn trong xe container từ Pháp sang Anh. Một cậu tên N. kể rằng nghe người làng rủ rê, đã vay mượn 400 triệu đồng nộp cho cò để được đưa sang đây. Có 2 người trong số 39 người tử nạn là người quen của cậu ấy. Cùng chia nhau miếng cơm cháy mang từ nhà sang, chị động viên 2 cậu trai xứ Nghệ yên tâm ở đây làm ăn. Chị viết: ”Cuộc gặp gỡ thoáng qua mà lòng dạ cứ nao nao. Chia tay lên đường, nhìn khuôn mặt của 2 cậu trai đứng cửa tiễn đoàn đi chỉ mong các em yên ổn ở đó đừng phiêu lưu vào con đường dịch chuyển mưu sinh bất ổn và đầy trắc trở nữa”.
4. Trong phần hai Khúc giao mùa, tôi đặc biệt thích những trang chị viết về người cha và người mẹ thân yêu của mình, về con phố Nguyễn Du nơi gia đình chị sinh sống ở Hải Dương. Ký ức như một cuốn phim quay lại những ngày thơ ấu trong một gia đình công chức nghèo, gian khó mỗi ngày nhưng đầy ắp ấm áp yêu thương.
Cha chị là cán bộ Ty Thông tin tuyên truyền, là nhà văn, nhà viết kịch, viết chèo nổi tiếng, có những vở chèo được Đài Tiếng nói Việt Nam hoặc Nhà hát chèo dựng như “Lên đường cứu nước”, “Đồng tiền Vạn Lịch”, bài hát “Vào Hải Dương” được lấy làm nhạc hiệu cho Đài truyền thanh Hải Dương. Những dòng chị viết về những đêm đông nhà nghèo cả nhà chui vào một giường, phủ thêm cái chiếu lên cho ấm thật giống như cảnh nhà tôi những năm 60 của thế kỷ trước khi bố tôi đột ngột qua đời sau một cơn đau nặng. Rồi cảnh bốn chị em ôm rịt lấy cha và nghe cha đố tên nước và thủ đô các nước, đố về các danh nhân anh hùng dân tộc và thế giới. Chị nhớ những lần được cha cho đi công tác ở các địa phương, được mẹ gói cho nắm cơm, ít tôm rang mặn, thế là tin hai cha con có thể đi khắp thế gian.
Mẹ chị là một cô gái đẹp của làng Cờ, “mặt trái xoan, mũi cao, da trắng mịn, tóc chải bồng, áo dài tím, đeo đôi khuyên vàng và dây chuyền mỏng mảnh”. Hãy đọc đoạn văn sau đây để hiểu thêm đất nước, làng quê mình những năm chiến tranh và thời bao cấp: “Mẹ tôi lên thị xã làm tại Công ty in Hiệp Thành (tư nhân), sau này chuyển thành Xí nghiệp in Hải Dương làm công nhân sắp chữ, soát mo rát, rồi tổ sách tức là vào trang đóng quyển. Công việc vất vả với người phụ nữ 4 con với ông chồng văn nghệ sĩ. …Mẹ tôi xoay đủ thứ việc để kiếm thêm tiền. Nhà lúc nào cũng nuôi vài ông lợn to béo trắng hồng, chiều chiều mẹ xách cái xô đi xin nước gạo, thức ăn thừa quanh xóm về băm thêm rau nấu cho lợn ăn. Tôi thường ngồi cạnh gãi gãi bụng bọn nó nằm lăn phơi tí hồng hồng ra. Mỗi lần nhà bán lợn tôi lại khóc rống lên vì thương nhớ bọn nó, bọn “bạn lớn” tức lợn bán. Căng nhất vụ làm đèn ông sao để bán vào mỗi dịp Trung thu. Chiến dịch thường đến cỡ hai tháng lao động cật lực cả nhà. Mẹ tôi chẻ nan cả đêm từ đống nứa mua về, nhuộm cây đay làm cán, nhuộm giấy… cả nhà sản xuất, ban ngày mẹ lại đi giao dịch giao cho các cửa hàng bán. Rồi vẽ tranh, làm hoa giấy, dán hộp, bóc lạc… chả thiếu việc gì, chả lúc nào ngơi ngoài việc của xí nghiệp. Vậy mà vẫn chỉ đủ ăn, tôi nhớ ngày nào mẹ cũng đong gạo vì làm gì có tiền mua nhiều một lúc. Hôm nào nhà có lưng thùng gạo, âu mỡ lẫn tóp trong chạn bếp là thấy ấm áp, yên tâm hẳn”.
Những chuyện như đi xin nước gạo, thức ăn thừa để nuôi lợn, cà nhà bò ra làm đèn ông sao để kiếm thêm chút tiền… đọc cảm thấy cay cay nơi sống mũi vì gần như giống chuyện gia đình nhỏ của tôi ở Nghĩa Đô những năm 80 của thế kỷ trước ( nhà tôi thay vì làm đèn ông sao thì bò ra dán lốc lịch, có hôm nhiều lốc lịch dán không chuẩn, bị trả về, lo ngay ngáy).
5. Những trang viết tình nhất, lãng mạn nhất, thẳm sâu nhất trong cuốn sách này là những trang trải lòng về Hà Nội - nơi chị Phương Thảo có những năm tháng sinh viên, nơi chị cất giữ mối tình đầu, nơi chị có một quãng đời làm việc đầy tinh thần cống hiến, nơi cuộc sống nhiều khát khao yêu thương và trao gửi.
Một không gian dịu dàng, êm ái mở ra trong Dịu dàng Tháng ba, Hương Tết, Cây cầu hoài niệm, Đêm Hà Nội, Những buổi chiều dài rộng, Mùa Sen, Trung thu lại về, Mẹ con nhà Na…
Trong Mưa sau bão, tôi cảm nhận sự giao thoa, hoà quyện giữa tình riêng và tình đời khi chị viết về một cuộc chia tay đầy hoài niệm của bản thân mình và cảnh đời mưu sinh của những người phụ nữ trong đêm mưa Hà Nội: ”Tôi đứng dưới mái hiên quán cà phê quen, nơi từng tiễn một người đi vào chiều mưa nhiều năm trước. Tiếng nhạc khe khẽ: Hà Nội ơi mỗi khi lòng xác xơ… Hôm ấy cũng là sau một trận bão, và mưa cũng dịu dàng đến lạ. Lời chia tay, nhẹ tênh như thể chưa từng có những ngày nắm tay nhau đi dọc bờ sông, chưa từng hẹn hò bên ly cà phê nhỏ trong góc phố cổ. Chỉ có tôi ở lại, với chiếc ô cũ đã bạc màu, với ký ức ngấm sâu như hơi nước thấm vào bờ tường đã cũ. Có lẽ, những cuộc tình ở Hà Nội thường như thế đến trong một chiều gió heo may, và rời đi sau một cơn mưa muộn.
Mưa hôm nay khiến lòng tôi chùng xuống. Giữa phố xá ngập ngụa nước, tôi thấy những người phụ nữ lặng lẽ mưu sinh. Cô bán hàng rong đẩy xe chở đầy hoa cúc ướt đẫm, chiếc áo mưa nylon dính chặt vào người. Mái tóc ướt, đôi bàn tay nhăn nheo, nhưng ánh mắt vẫn sáng lên khi có người ghé mua. Ở góc chợ nhỏ, người phụ nữ khác cặm cụi nhặt từng mớ rau, che tạm những giọt nước mưa tạt vào mặt hàng. Họ chẳng sợ ướt, chỉ sợ ế, sợ con nhỏ ở nhà đói bữa. Mưa với họ không phải là kỷ niệm hay cảm xúc, mà là thử thách. Nhìn họ, tôi thấy lòng mình bỗng lặng đi. Tình yêu tan vỡ, suy cho cùng cũng chỉ là một nỗi buồn đẹp. Còn nỗi buồn của những người đàn bà mưu sinh - nó không có tên, không có nước mắt, chỉ có đôi vai gầy ướt nước trong mưa.”
Điều cuối cùng mà tôi muốn nói để kết thúc bài viết này chính là tên của cuốn sách Hạnh phúc là những dấu trừ. Thoạt đầu tôi hơi phân vân, mãi tới khi đọc câu cuối cùng trong bài chị trả lời phỏng vấn báo Tri thức ở Phần ba, tôi mới hiều được ý của tác giả cuốn sách.
Hỏi: “Công thức hạnh phúc của bà là gì?” Trả lời: “Tôi nghĩ, hạnh phúc chẳng có công thức nào đâu! Mỗi người có cảm nhận về hạnh phúc của riêng mình. Mỗi người sẽ đón nhận những cảm xúc vui, buồn, thăng trầm theo những cách khác nhau. Nhiều người cho rằng, hạnh phúc là phải lấy thêm cái này, cái kia vào nhưng với tôi, hạnh phúc là nhiều dấu trừ, trừ đi một chút tham lam, ích kỷ, trừ đi một chút tham vọng của bản thân, trừ đi một chút hẹp hòi đối với mọi người… khi đấy mình sẽ hạnh phúc.”
Câu trả lời này chứa đựng triết lý sống của chị. Tôi nghĩ, chính từ sự “trừ đi một chút tham lam, ích kỷ, trừ đi một chút tham vọng của bản thân, trừ đi một chút hẹp hòi“ mà chị tìm thấy một cõi bình yên cho tâm hồn trong cuộc sống nhiều thách thức, đầy sức ép và luôn náo động, để chị có những trang viết thoáng nhẹ và đầy ân tình trong cuốn sách đễ thương này.
Trong cuộc đời, đôi khi hạnh phúc không phải là một ngày lộng lẫy mà là một ngày dịu dàng.