|
| Bức tranh Chân dung tự họa được họa sĩ Paul Gauguin vẽ năm 1889. Ảnh: wikiart. |
Chân dung tự họa
Điều đặc biệt nhất ra đời từ cuộc gặp gỡ với Vincent Van Gogh chính là những bức chân dung tự họa đầu tiên của Gauguin, một dạng thư từ bằng hình ảnh. Hai nghệ sĩ quyết định, thay vì gặp mặt nhau, họ tự họa và không giấu giếm điều gì về những trăn trở trong sáng tác.
Hơn nữa, chân dung tự họa hoàn toàn phù hợp với thời kỳ sáng tạo mãnh liệt của Gauguin trong khoảng thời gian từ năm 1886 đến năm 1889, cũng như với việc dò dẫm trong chủ nghĩa Tượng trưng của ông, vì nó cho phép người ta nghiên cứu về cá tính: tự họa chính là vẽ một người mẫu mà ta thấu hiểu một cách hoàn hảo, không phải sợ tính tự ái và nó thuận lợi cho mọi hình thái tự xét.
Gauguin vẽ 40 bức; đôi khi là một hình ảnh họa sĩ bị dằn vặt, có lúc đơn giản là họa sĩ đang làm việc, hoặc là một đề tài để thử nghiệm, như trong bức chân dung tự họa trưng bày ở Washington.
Được cho là đi đôi với bức Chân dung Meyer de Haan, bức tranh này rất kỳ lạ: chiếc áo dài màu vàng tạo ấn tượng rằng người họa sĩ không có thân mình, độ tương phản giữa hai màu rực rỡ và việc dùng những đường cong tạo ra một cảm giác khác thường, tương ứng hoàn hảo với tính thẩm mỹ của chủ nghĩa Tượng trưng.
Với mong muốn thể hiện mình là một linh hồn thuần khiết, không bị ràng buộc về vật chất, họa sĩ đi xa hơn và thậm chí tô điểm cho đầu của mình một vầng hào quang. Sự ám chỉ đến Ki-tô giáo mà phần lớn đều đồng tình này gợi đến Bức chân dung Chúa Ki-tô vàng (Autoportrait au Christ jaune) hoặc Chúa Ki-tô trong vườn ô liu (xem trang 14), được vẽ cùng thời điểm, và cho thấy một Gauguin nghĩ rằng mình vừa là thánh tử vì đạo của một thế giới nghệ thuật chối bỏ ông, vừa là sứ giả của một khuynh hướng thẩm mỹ mới.
Hơn nữa, giữa thánh thiện và suy đồi, họa sĩ chia bức chân dung tự họa này thành hai phần: một bên là quầng sáng, một bên là con rắn và những quả táo, gợi lên bằng chứng về nguồn gốc của tội lỗi. Với bố cục này, Gauguin tôn vinh sức mạnh của trí tuệ đối với vật chất và cũng bộc lộ tính hai mặt của chính nó: phân chia hai thế giới, giấc mơ và hiện thực, man rợ và hiện đại, người nghệ sĩ đáng ghét và con người tự tin.
|
| Bức tranh Chân dung người nghệ sĩ được họa sĩ Paul Gauguin vẽ năm 1893. Ảnh: wikiart. |
Bức chân dung tự họa thứ hai, mặc dù ở hậu cảnh có một tác phẩm về Tahiti của Gauguin, Hồn ma canh giấc (Manao Tupapau), nhưng nó không được thực hiện ở Tahiti mà ở Paris khi ông quay lại đó năm 1894, và vô cùng hiếm hoi rằng ông còn vẽ ở mặt sau bức chân dung của William Molard, một nhạc sĩ người Thụy Điển thân với Maurice Ravel và Edvard Grieg.
Ôm bao hy vọng rằng rồi đây mình sẽ gặt hái thành công với các tác phẩm về Tahiti đầu tiên, cuối cùng Gauguin lại thất vọng. Không chỉ việc bán tranh ở Paris thất bại mà ngay cả lời đề nghị tặng bức Ia Orana Maria hay Kinh kính mừng (Je vous salue Marie) cho Bảo tàng Luxembourg, dành cho các nghệ sĩ đương thời, cũng bị từ chối.
Trong bức chân dung tự họa này, ông vẽ một lời biện hộ cho loại nghệ thuật mà ông đã gầy dựng ở Tahiti, thứ dường như ông coi là đỉnh cao của những suy tưởng thẩm mỹ riêng. Khuôn mặt và tác phẩm ở hậu cảnh trông như cây cầu nối giữa Paris với Tahiti.
Bấy giờ, họa sĩ biết rằng ông muốn vẽ ở Tahiti nhưng ông chỉ có thể bán tác phẩm ở Paris. Bất chấp mọi nỗ lực của Gauguin, phải đợi đến hậu thế, ông mới được tôn vinh như biểu tượng cho cả một thế hệ nghệ sĩ, từ những họa sĩ trường phái Dã thú Pháp cho đến những họa sĩ Biểu hiện Đức, người nghệ sĩ đã can đảm trốn tránh những sự bức chế của xã hội đô thị và để cho cái nguyên sơ tự bạch.