Cơn ác mộng 1973 đã trở lại. Vì Iran ngừng cung dầu nên đã xảy ra thiếu hụt. Dự trữ ở California thấp, và sau khi tin đồn và báo cáo về sự thiếu hụt ở chợ đen, dường như 12 triệu xe ở trong bang đều dừng lại ở trạm xăng để đổ. Một số bang, trong nỗ lực nhằm tránh cạn kiệt cung, đã cấm các xe mua hơn 5 đôla xăng mỗi lần. Kết quả là xe lại ghé trạm xăng thường xuyên hơn.
Giá lại tiếp tục leo thang
Cùng lúc, hệ thống phân bổ của chính phủ liên bang ngừng hoạt động và từ chối cung cấp để thỏa mãn cầu. Kết quả là xăng bị thiếu hụt ở các vùng thành thị, nhưng ở ngoại ô, nơi thiếu vắng khách du lịch lại dư thừa. Nói chung, đất nước đã điều phối thông qua đường gas. Một chiếc xe điển hình sử dụng 7/10 gallon dừng ở đường gas. Một ước tính cho thấy các lái xe Mỹ ở mùa xuân và mùa hè của 1979 có thể đã làm lãng phí khoảng 150.000 thùng dầu một ngày khi dừng lại các trạm xăng.
Các công ty đang giữ dầu, các tàu chở dầu thì bị giữ ngoài khơi để làm giá tăng, ngành công nghiệp cố tình giữ dầu để tạo ra thiếu hụt nhằm tăng giá. Clifton Garvin, Chủ tịch Exxon, quyết định một mình ra công luận để bác bỏ những lời buộc tội. Garvin là người vui vẻ, có kỷ luật, thích xem xét mọi thứ cẩn thận. Là kỹ sư hóa, ông đã làm ở mọi bộ phận của ngành dầu. Bây giờ, ông xuất hiện trên truyền hình, trước giới truyền thông. Nhưng dường như bất cứ khi nào Garvin bắt đầu giải thích về vấn đề cơ bản của dự trữ và những phức tạp trong ngành, những người phỏng vấn lại nhìn sang, cắt ngang và chuyển đề tài.
Ông nhớ lại, “Ông thờ phụng những gì lớn, hiệu quả của nền kinh tế, sản xuất hàng loạt, nhưng ông ghét những gì là lớn, quyền lực, và ngành dầu được coi là ngành lớn nhất và quyền lực nhất. Đó là sự căm ghét khách quan, nhưng Garvin không định nắm lấy cơ hội nào. Một hôm, ông lái xe chờ ở sau đường gas ở trạm Exxon, ở Post Road, trung tâm của Greenwich, Connecticut. Người bán, nhận ra chủ tịch của Exxon, nhường cho ông lên phía trước. Garvin hỏi: “Anh sẽ giải thích với những người đang chờ như thế nào?” Người bán nói: “Tôi sẽ nói với họ ông là ai”, Garvin nói chắc chắn: “Tôi vẫn sẽ ngồi ở đây.”
|
| Khi xăng dầu khan hiếm vào năm 1979, các tài xế xe tải Mỹ đã đình công ở Pennsylvania. Ảnh: Matt Reimann/Medium. |
Xăng và Chủ tịch
Đường dẫn gas đánh dấu sự kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của Jimmy Carter. Ông là một trong những nạn nhân của cuộc cách mạng Iran và sự thăng trầm trên thị trường dầu mỏ. Carter nắm quyền được hai năm, từ năm 1977, với hai nhân cách trái ngược phản ánh hai mặt của những trải nghiệm của ông. Ông là người giảng đạo, tìm kiếm sự khôi phục về đạo đức của nước Mỹ sau vụ Watergate. Ông cũng là kiến trúc sư, cố gắng kiểm soát sự rối ren trong bộ máy chính trị Mỹ và muốn chỉ huy cả những vấn để lớn lẫn những chi tiết nhỏ.
Carter dường như là hình mẫu sự lãnh đạo phù hợp trong cuộc khủng hoảng 1979; sau tất cả, lịch trình và sự quan tâm của ông như là người giảng đạo và kỹ sư đã tập trung hết vào năng lượng và dầu, khiến chúng trở thành tâm điểm trong nước của chính quyền ông. Và bây giờ, ông đang đối mặt với cuộc khủng hoảng mà ông đã cảnh báo trước. Nhưng không hề có phần thưởng giành cho nhà giảng đạo, chỉ là những lời buộc tội.
Cho đến giữa tháng 3 năm 1979, sau hai tháng khủng hoảng, Eliot Cutler, trưởng ban cố vấn về năng lượng của Nhà Trắng, đã cảnh báo về việc “mũi tên đang nhắm về chúng ta từ mọi phía - từ những người muốn từ bỏ bộ máy luật lệ, từ những người lo ngại về nạn lạm phát, từ những người muốn một chương trình hấp dẫn và quyết đoán, từ những người không muốn các công ty dầu mỏ trở thành những kẻ thu lợi nhuận, và từ những người muốn làm cho cuộc sống chính trị trở nên khủng khiếp đối với chúng ta”. Chỉ ngay sau đó không lâu là tai nạn ở Three Mile Island, và các nước lo ngại nhìn các tấm ảnh của kỹ sư hạt nhân, Jimmy Carter, trong bộ đồ bảo hộ màu vàng, xem xét kỹ phòng điều khiển của nhà máy bị thiệt hại.
Tháng 4, Carter có một bài phát biểu quan trọng về chính sách năng lượng làm tăng thêm những lời phê bình. Ông thông báo việc từ bỏ kiểm soát giá dầu, khiến các chính trị gia nổi giận muốn đổ lỗi mọi điều tệ cho các công ty xăng dầu. Ông đưa ra thuế lợi tức, đánh lên lơi nhuận vượt quá của các công ty dầu, hành động khiến các nhà bảo thủ, người đổ lỗi cuộc khủng hoảng là do sự can thiệp, điều hành của chính phủ và các chính sách quá kiêu hãnh tức giận.
Một lực lượng đặc nhiệm của tổng thống về năng lượng nhiều lần họp bí mật nhằm tìm ra giải pháp cho sự thiếu hụt xăng dầu. Cách nhanh duy nhất để chiến đấu với sự ngưng trệ, và kết thúc đường dẫn ga, trước khi kết thúc quyền Tổng thống của Carter, là khuyến khích Ả-rập Xê-út tăng lại sản lượng.
Tháng 6, đại sứ Mỹ tại Riyadh gửi một bức thư chính thức cho Tổng thống Carter và một bản viết tay riêng tư hơn. Cả hai đều khẩn thiết yêu cầu Ả-rập tăng sản lượng. Vị đại sứ cũng gặp Thái tử Fahd, người đứng đầu Hội đồng xăng dầu tối cao quốc gia trong vài giờ, tìm kiếm cam kết để tăng sản lượng và kìm giá xuống.
Trong cùng tháng đó, Carter đến Viên để kết thúc đàm phán về thỏa thuận kiểm soát vũ khí của SALT II với chủ tịch Liên bang Xô Viết Leonid Brezhenev. Thỏa thuận SALT II, sau những cuộc đàm phán suốt bảy năm qua ba chính quyền, đáng lẽ đã được ăn mừng như là một thành tựu nổi bật. Nhưng nó đã không như vậy. Nó không đáng kể. Thứ quan trọng nhất lúc đó là đường dẫn gas.