Giá dầu tăng đã trở thành mục tiêu chú ý thường xuyên của các nhà lãnh đạo các nước và là chủ đề xuất hiện trên các trang nhất trong nhiều tháng. Điều này cũng gây quan ngại cho các nhà lãnh đạo Ả-rập Xê-út từng được cảnh báo về nguy cơ bị mất quyền kiểm soát thị trường. Thực tế, quyền lực đã rơi vào tay các lực lượng thù địch là Libya và Iran. Họ cho rằng giá cả gia tăng đột biến sẽ đe dọa đến nền kinh tế thế giới, dẫn đến sự suy thoái, khủng hoảng, hoặc thậm chí phá sản kinh tế và do đó đe dọa lợi ích riêng của họ.
Thời kỳ tương lai nền kinh tế Ả-rập Xê-út được quyết định bởi số người hành hương đến Mecca đã là điều xa vời; giờ đây chỉ “tỷ lệ” mới có ý nghĩa với Riyadh − tỷ lệ lãi suất thế giới, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ tăng trưởng. Ả-rập Xê-út cũng lo sợ vị thế của mình sẽ bị đánh đổ vì một lý do khác, giá cả tăng sẽ làm người tiêu dùng mất lòng tin, thúc đẩy cạnh tranh kéo dài với tổ chức dầu mỏ OPEC cũng như xuất hiện các loại nhiên liệu thay thế mới. Điều đó trở thành mối đe dọa đặc biệt với một đất nước có trữ lượng lớn về dầu mỏ và tương lai còn phát triển xa hơn nữa trong thế kỷ XXI.
Trước tình hình này, Ả-rập Xê-út đã phản ứng lại. Yamani trở nên hiếu chiến hơn bất kỳ các lãnh đạo phương Tây nào trong việc ngăn giá dầu tăng. Ả-rập Xê-út cố gắng khống chế mức giá chính thức của mình theo giá mà các nhà xuất khẩu khác yêu cầu ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với từ bỏ một món lợi. Họ cũng tìm cách đối phó với mức giá tăng bằng cách tiếp tục thúc đẩy sản xuất. Mục tiêu của họ rất rõ ràng: tăng cung ứng để buộc giá giảm. Nhưng hiệu quả vẫn chưa thể thấy ngay.
Giữa tháng 10 năm 1979 sau khi Libya và Iran đẩy giá dầu mỏ lên, Yamani xót xa tuyên bố: “Chúng ta đang mất dần khả năng kiểm soát mọi thứ. Thật đau lòng. Chúng ta không muốn điều đó xảy ra.” Sau một vài tuần, thảm kịch bắt giữ con tin đã xảy ra. Trong một thị trường nhiều biến động, mặc dù Ả-rập Xê-út đã tiến hành các biện pháp đối phó, giá cả vẫn liên tục dao động. Liệu khả năng bình ổn có thể xảy ra? Mọi sự tập trung đều hướng về hội nghị OPEC thứ 55, dự tính tổ chức tại Caracas vào cuối tháng 12 năm 1979.
|
| Hội nghị OPEC trong lịch sử. Ảnh: Opec.org. |
Khi Juan Pablo Perez Alfonzon lần đầu tiên trở thành Bộ trưởng dầu khí Venezuela những năm 1940, thì sườn đồi phía nam Caracas mới chỉ là một cánh đồng trồng mía đường. Giờ đây, khu vực này đã trở thành địa phận của Tamanaco, một khách sạn quốc tế với phong cách cổ kính và một bể bơi ngoài trời tuyệt đẹp, một công trình thể hiện sự phát triển của ngành dầu khí Venezuala. Đó là nơi giới kinh doanh dầu mỏ dừng lại khi đến Caracas và là nơi hội họp của các bộ trưởng OPEC.
Vấn đề được đưa ra bản thảo là phải thống nhất một mức giá chung cho OPEC, chấn chỉnh lại tình trạng lộn xộn về giá. Giá dầu chính thức của Ả-rập Xê-út là 18 đôla một thùng, các nơi khác xấp xỉ 28 đôla, trong khi giá giao ngay dao động khoảng 40-50 đôla. Trước cuộc họp, Ả-rập Xê-út tuyên bố tăng lên 24 đô-la/thùng, vì cho rằng các quốc gia khác sẽ hạ giá xuống cho phù hợp. Nhưng điều đó tỏ ra vô tác dụng; Iran ngay lập tức tăng giá thêm 5 đôla/thùng. Một lần nữa, cũng giống như điều đã xảy ra những năm 1950, đó là sự rạn nứt sâu sắc giữa Ả-rập Xê-út và Iran.
Ả-rập Xê-út đã sản xuất thêm dầu mỏ để đối phó với tình trạng dầu tăng giá. Năm 1979, sản lượng OPEC đạt 31 triệu thùng một ngày. Nếu chưa kể việc Iran tạm ngừng sản xuất, con số này vẫn nhiều hơn năm 1978 3 triệu thùng. Vậy lượng dầu sản xuất thêm sẽ đi đâu?
Theo Yamani, chúng sẽ không được tiêu thụ mà chủ yếu để các công ty dự trữ phòng trường hợp nguồn cung trong tương lai bị gián đoạn. Trong một vài trường hợp, lượng dầu dự trữ này có thể đem ra tiêu thụ nhằm hạ bớt giá dầu. Sau này, Yamani giải thích: “Những quyết sách chính trị không thể phủ nhận quy luật cung cầu. Giá lên tất yếu nhu cầu sẽ giảm. Đó là điều dễ hiểu như 1+1=2 vậy.”
Tại Tamanaco, Yamani đã rời lên tầng trên của dãy nhà tổng thống, hủy bỏ yêu cầu của Bộ trưởng dầu mỏ Venezuela, và bắt đầu chiến dịch bảo vệ quan điểm của mình. Các bộ trưởng dầu mỏ đã gặp gỡ riêng tại Ả-rập Xê-út để bàn thảo về cuộc chạy đua giá cả. Yamani đã cảnh báo họ rằng chính họ đã và đang phá hoại lợi ích của nhau, và có những dấu hiệu cho thấy nhu cầu về dầu mỏ đang giảm dần, và rằng việc nhảy giá liên tục sẽ dẫn đến “Thảm họa cho nền kinh tế thế giới”.
Chỉ số ít các bộ trưởng đồng ý với quan điểm của ông, còn đại đa số thì không. Khi Yamani nói rằng nhu cầu về dầu mỏ của OPEC sẽ sụt giảm nghiêm trọng, các bộ trưởng sẽ phải cắt giảm sản lượng để giữ giá, và dự báo dầu mỏ có thể mất giá vào bất cứ lúc nào; họ đã cười nhạo ông. Một vị bộ trưởng cho rằng Yamani hẳn đang đùa cợt họ, một vị khác thì nói có lẽ do ông say rượu.
Trong suốt 11 tiếng đồng hồ, các vị bộ trưởng đã tranh luận gay gắt nhưng rút cuộc chẳng đi đến sự nhất trí nào. Thực tế đã không có một mức giá chính thức nào được đưa ra. Yamani thất vọng nói rằng OPEC và thị trường dầu mỏ đã trở thành quầy tạp hóa. Lời cảnh báo mà ông đưa ra cho các nhà sản xuất lại là lời hứa hẹn với người tiêu dùng. “Sắp sửa diễn ra một cuộc khủng hoảng thừa.” Giá dầu sẽ tụt xuống.
Tuy nhiên các quốc gia xuất khẩu dầu đã phớt lờ lời cảnh báo bởi họ tin vào những lý lẽ của riêng mình. Theo lời của Bộ trưởng dầu mỏ Iran: “Nhân danh Chúa toàn năng, sẽ chẳng có sự dư thừa nào ở đây cả. Và giá dầu sẽ không giảm”. Phần lớn các quốc gia xuất khẩu đều cho rằng nhu cầu về dầu mỏ sẽ không bao giờ thay đổi và họ có thể áp bất cứ mức giá nào họ muốn. Sự tự tin của họ được chứng minh ngay sau cuộc họp, khi Libya, Angiêri, và Nigeria tiếp tục nâng giá dầu lên. Các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ khác ngay lập tức theo sát động thái này.