Để đối phó với tình trạng này việc hạ giá dầu đã trở thành mục tiêu của các nước xuất khẩu dầu mỏ. Tuy nhiên, một lần nữa, Ả-rập Xê-út đứng ngoài cuộc và vẫn giữ nguyên mức giá 34 đôla một thùng mà nhiều quốc gia khác cho rằng đó là điều không phù hợp. Người mua, trong đó có cả đối tác Aramco, sớm từ bỏ hy vọng rằng Ả-rập Sau đi sẽ giảm giá. Họ không thể dễ gì áp đặt mức giá cao hơn đối với các chi nhánh và khách hàng của mình trong khi những cơ sở cũng như đối tượng này đang phải cạnh tranh với các công ty khác để có thể tiếp cận được nguồn dầu rẻ hơn. Sản lượng của Ả-rập Xê-út đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 1970.
Đầu năm 1983, Yanami đã tiến hành một cuộc điều tra về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng OPEC. “Xin lỗi vì đã so sánh thế này,” ông nói, “nhưng lịch sử cuộc khủng hoảng cũng giống như khủng hoảng tâm lý của bà mẹ mang thai... nó bắt đầu như một hiện tượng mang thai bình thường - tràn ngập đam mê và hân hoan. Tại thời điểm đó, các nước thành viên khác đều mong muốn chúng ta tăng giá dầu bất chấp những cảnh báo xấu về hậu quả của nó. Hơn thế nữa, mọi quốc gia đều đang thu được nguồn lợi nhuận khổng lồ và đổ xô vào các dự án phát triển với suy nghĩ ngây thơ là lợi nhuận sẽ không bao giờ ngừng tăng. Chúng ta đã vui mừng thái quá và cuối cùng đã phải đối mặt với hậu quả là giá dầu của chúng ta quá cao so với thị trường thế giới,” Yanami bày tỏ.
|
| Các thùng dầu. Ảnh: Reuters. |
Cuối tháng 2 năm 1983, giá dầu mỏ gần như đã giảm xuống mức sàn. Công ty Dầu khí Vương Quốc Anh đã quyết định giảm 3 đôla mỗi thùng dầu ở vùng Biển Bắc. Như vậy giá dầu tại khu vực này chỉ còn 30 đôla một thùng. Điều này đã ảnh hưởng đến Nigeria, một thành viên của OPEC với dân số 100 triệu người, có nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào dầu mỏ. Dầu mỏ ở Nigeria trực tiếp cạnh tranh với dầu thô ở Biển Bắc về chất lượng. Những người mua dầu bình thường của Nigeria giờ đã có thể bỏ qua xứ sở châu Phi này để mua dầu từ vùng Biển Bắc với giá rẻ hơn. Và thực tế Nigeria đã ngừng xuất khẩu dầu do không có khách hàng. Tình hình chính trị với chế độ dân sự gần đây ở Nigeria đã khuyến khích quốc gia này cam kết sẽ phản ứng một cách tích cực. Yahaya Dikko, bộ trưởng dầu khí của Nigeria khẳng định: “Chúng tôi sẵn sàng đối mặt với cuộc chiến về giá cả.”
Đầu tháng 3 năm 1983, các bộ trưởng dầu khí cùng đoàn đại biểu vội vàng tụ họp và trớ trêu là lại diễn ra tại London, sân nhà của Anh Quốc, một đối thủ hàng đầu của các quốc gia OPEC. Cuộc họp được tổ chức tại Khách sạn Liên Châu Lục tại Hyde Park và diễn ra trong vòng 12 ngày. Đó thực sự là khoảng thời gian dài vô tận và vô cùng chán nản – một kinh nghiệm mà có thể khiến một số người cảm thấy bị dị ứng nếu ngày nào đó phải đặt chân lại khách sạn này. Tuy nhiên, cho dù người ta có phản đối giá dầu giảm như thế nào hay bày tỏ thái độ giận dữ, thất vọng đến đâu thì cũng không thể ngăn cản và phủ nhận thực tế, đó là việc giá dầu OPEC giảm tới 15% - từ 34 đôla xuống còn 29 đôla một thùng. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của mình, OPEC có một quyết định như vậy. Các nước xuất khẩu cũng nhất trí hạn ngạch 17.5 triệu thùng một ngày cho toàn khối OPEC.
Nhưng ai sẽ được và được bao nhiêu hạn ngạch? Hàng triệu đôla có nguy cơ bị mất bởi việc phân bổ hạn ngạch. Các quốc gia xích mích với nhau về vấn đề phân phối hạn ngạch. Mười hai ngày nhẫn nại họp bàn về dầu mỏ tại London cuối cùng cũng đã ngăn chặn được nguy cơ sụp đổ về giá, ít nhất là ở thời điểm đó. OPEC đã phải định lại giá cho phù hợp với giá trên thị trường đang xuống dốc.
Tuy vậy có một quốc gia chắc chắn không phải chịu bất kỳ mức hạn ngạch nào. Đó là Ả-rập Xê-út. Trong trường hợp nước này bị áp dụng hạn ngạch, thì Yamani quả quyết rằng, con số nhất định sẽ thấp hơn sáu triệu thùng một ngày, mức tối thiểu mà Riyadh có thể chấp thuận. Thay vào đó, trong thông cáo đưa ra, Ả-rập Xê-út sẽ “đóng vai trò nhà sản xuất linh động nhằm cung cấp sản lượng phù hợp với nhu cầu thị trường. Lần đầu tiên, Ả-rập Xê-út, quốc gia nắm giữ một phần ba trữ lượng dầu mỏ trên toàn thế giới, đã đồng ý điều chỉnh sản lượng dầu mỏ của mình nhằm cân bằng thị trường và giúp ổn định giá cả. Nhưng hệ thống quản lý giá mới của OPEC phụ thuộc vào việc hạn chế gian lận của 12 thành viên, và phụ thuộc vào thiện chí cũng như khả năng của thành viên thứ 13, là Ả-rập Xê-út, trong việc đóng vai trò nòng cốt là nhà sản xuất “linh động”.