Sau khi nói hết về thanh lục sơn thủy họa, chúng ta sẽ nói đến thủy mặc sơn thủy họa và văn nhân họa. Trong lịch sử hội họa Trung Quốc có một hiện tượng lạ lùng: thi nhân đóng vai trò vô cùng quan trọng. Có thể nói, nếu không có thi nhân thì hội họa Trung Quốc sẽ có một diện mạo khác.
Vương Duy, nhà thơ kiệt xuất thời Đường, đồng thời cũng là một họa sĩ, [nhưng] có lẽ không nhiều người biết đến vai trò sau. Vì ông có những tác phẩm hội họa gì, đại đa số đều không trả lời được. Trên thực tế, ông có địa vị rất cao trong lịch sử hội họa Trung Quốc, là người sáng lập ra thủy mặc sơn thủy họa, cũng vừa là ông tổ của văn nhân họa.
Vương Duy, tự là Ma Cật, người Kỳ Châu tỉnh Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ tỉnh Sơn Tây). Từ tên của ông đã có thể nhận ra ông là một Phật tử sùng đạo. Trong tầng lớp sĩ đại phu Trung Quốc, nhân vật Phật giáo được yêu thích nhất là Duy Ma Cật. Vương Duy đã tách ba chữ trong “Duy Ma Cật”, lấy tên là “Duy”, tự là “Ma Cật”.
Vương Duy đỗ tiến sĩ năm 20 tuổi. Vì ông có tài năng âm nhạc nên được bổ nhiệm làm thái nhạc thừa, một chức quan nhỏ phụ trách âm nhạc trong tế lễ. Sau đó, vì người diễn tuồng tự ý biểu diễn điệu múa sư tử vàng vốn chỉ dành cho hoàng đế mà bị liên lụy, bị giáng chức thành tư thương tham quân ở Tế Châu.
Năm Khai Nguyên thứ 27, Vương Duy về kinh, làm quan trong triều, về sau thăng chức ngũ phẩm Khố bộ lang trung, phụ trách binh khí nghi trượng. Sau lại được chuyển làm Sử bộ lang trung, phụ trách nhân sự quan viên. Mặc dù quan lộ suôn sẻ, nhưng Vương Duy vốn đã học Thiền, thờ ơ với danh lợi, ít ham muốn, không mặn mà với quyền lực, mọi thứ đều thuận theo tự nhiên, gửi tình vào núi sông, sống cuộc đời nửa quan nửa ẩn. Đầu tiên là ẩn cư ở núi Chung Nam, về già ẩn cư tại Võng Xuyên Lam Điền dưới chân núi Chung Nam. Hoặc là “gảy đàn ngâm thơ, thổi sáo hát ca cả ngày”, hoặc là tu Đạo niệm Phật, quay về với bản chất, hòa mình vào thiên nhiên.
Nhưng cuộc sống không phụ thuộc vào ý chí của Vương Duy. Ngay khi ông nhàn nhã tự tại thì xã hội nổi lên phong ba bão táp. Chính là cuộc nổi dậy do An Lộc Sơn phát động khi Vương Duy 54 tuổi, Vương Duy trở thành tù binh của quân nổi dậy.
Sau khi Vương Duy bị bắt, từ trong thâm tâm mà nói, ông nguyện ý làm trung thần, không muốn quy phục quân phản loạn, nhưng ông lại không thể chống lại sự uy hiếp của An Lộc Sơn, không thể lấy cái chết ra để đấu tranh. Ông từng viết câu thơ “Trăm quan thao thức những mong ngày chầu”1, tỏ rõ thái độ chính trị của mình, cũng chính câu thơ này đã cứu mạng ông sau khi Túc Tông dẹp xong loạn.
|
| Giang Can tuyết ý – Vương Duy, thời Đường. Ảnh: old888 |
Những năm cuối đời, Vương Duy sống trong cô quạnh và khổ đau. “Sẻ hót thôn vắng, Gà gáy nhà không, Cô đơn lại tới, Thở vắn than dài”2. Có lẽ lúc này chỉ có hội họa mới có thể vơi đi phần nào nỗi u sầu trong lòng ông.
Ông viết: “Già sinh biếng cả ngâm nga, Hôm mai lỉn kỉn cái già theo sau. Họa sư nghiệp trước đeo nhau, Mang danh Từ khách mấy câu ỡm ờ”3.
Các tác phẩm thủy mặc sơn thủy họa của Vương Duy còn lưu truyền đến ngày nay đa phần là bản chép của các thế hệ sau. Có hai bức Giang Can tuyết tễ đồ (Tuyết ngừng rơi ở Giang Can) và Trường Giang tích tuyết đồ (Tuyết phủ kín Trường Giang).
--------------
1. Trích trong bài “Ngưng Bích trì”, bản dịch tham khảo trong Vương Duy thi tuyển, Giản Chi tuyển dịch, Nxb. Văn học, 1995.
2. Trích trong bài “Thù chư công kiến quá”.
2. Trích trong bài “Ngẫu nhiên tác kỳ 6”, bản dịch tham khảo trong Vương Duy thi tuyển, sđd.