
Theo chia sẻ của NSƯT Đinh Trung Cẩn, Tổng giám đốc Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) hồi tháng 1, năm 2025, đơn vị thu này hơn 424 tỷ đồng tiền bản quyền âm nhạc Việt. Trong năm 2025, VCPMC phân phối hơn 268 tỷ đồng tiền bản quyền cho các tác giả và chủ sở hữu quyền. Có nhạc sĩ nhận hơn 4 tỷ đồng tiền tác quyền chỉ trong một năm. Thậm chí, một tác phẩm cũng có thể mang về gần 1 tỷ đồng doanh thu bản quyền.
Con số trên cho thấy nguồn thu từ khai thác quyền tác giả ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với những người hoạt động sáng tạo âm nhạc. Đặc biệt, trong bối cảnh các cơ sở kinh doanh như quán cà phê, cơ sở giải khát, nhà hàng… phải tăng tiền bản quyền khi phát nhạc cho khách hàng từ 1/7 theo Nghị định 134/2026/NĐ-CP, các nghệ sĩ Việt càng được đảm bảo nguồn thu, có thêm động lực để sáng tạo.
Nguồn tiền của giới nghệ sĩ
Nhạc sĩ Trịnh Xuân Hảo cho biết với Tri Thức - Znews, với các nhạc sĩ và ca sĩ Việt hiện tại, đơn vị thu tiền tác quyền phổ biến nhất là VCPMC. Theo nghệ sĩ, cá nhân anh cũng như nhiều nhạc sĩ khác, mỗi khi có ca khúc mới sẽ gửi tất cả giấy tờ liên quan cho VCPMC để ký hợp đồng khai thác và thu phí tác quyền.
Các chi hội âm nhạc trên toàn quốc đưa về VCPMC các tác phẩm âm nhạc, bản thu, bản ghi hình, video… và tất cả những gì liên quan đến tác quyền cũng như “đứa con tinh thần”. Từ đây, VCPMC sẽ có “máy quét” để thu được tiền tác quyền từ tất cả nền tảng… Hàng tháng hoặc hàng quý, trung tâm sẽ có thông báo cụ thể về việc nhạc sĩ này được bao nhiêu, nhạc sĩ kia đã được khai thác ca khúc như thế nào.
Nhạc sĩ nói nguồn thu của các nghệ sĩ khá khác nhau. Trong đó, thu nhập của ca sĩ thường cao hơn hẳn nhạc sĩ. Do họ nhận được số tiền lớn từ đi diễn show, quay quảng cáo… Nhưng đây là dễ hiểu bởi đổi lại ca sĩ cũng phải bỏ ra số tiền không nhỏ để mua độc quyền bài hát, đầu tư quay MV, thu âm, trang phục trình diễn… Về phần nhạc sĩ, doanh thu lớn nhất của họ thường đến từ đơn đặt hàng sáng tác ca khúc quảng cáo hoặc bài hát độc quyền từ ca sĩ, doanh nghiệp.
|
| Từ 2021, Nguyễn Văn Chung đã nhận hơn 1 tỷ đồng tiền tác quyền. Những năm gần đây, anh có thêm nhiều ca khúc nổi tiếng, do đó, số tiền nhận được được dự đoán tăng thêm nhiều lần. Ảnh: FBNV. |
Theo nhạc sĩ Trịnh Xuân Hảo, nếu chỉ tính tiền tác quyền từ nhạc số, chương trình truyền hình, show diễn… chỉ số ít nhạc sĩ Việt thực sự có thu nhập cao. Đó là những nhạc sĩ đã có chỗ đứng ở thị trường nhạc Việt với nhiều bài hát có độ phủ sóng cao, sức sống bền bỉ.
Với những nhạc sĩ ít tiếng tăm hơn, họ khó sống chỉ bằng nghề sáng tác, sản xuất âm nhạc. Đặc biệt, trong bối cảnh AI ngày càng phát triển, giới nhạc sĩ càng "nghèo". Do đó, anh đánh giá cao Nghị định 134/2026/NĐ-CP, nhờ đó, môi trường âm nhạc càng phát triển, chuyên nghiệp, các nhạc sĩ, ca sĩ càng có nguồn thu tốt hơn.
Chuyên gia truyền thông Khôi Phan cho biết thêm, về nguồn thu tác quyền hiện nay của ca sĩ và nhạc sĩ, chủ yếu tập trung vào 3 nhóm chính. Thứ nhất là khai thác công cộng (public performance): quán cà phê, nhà hàng, khách sạn, karaoke, trung tâm thương mại... theo cơ chế cấp phép và thu phí của VCPMC. Thứ hai là phát sóng và biểu diễn trên truyền hình, radio, liveshow, sự kiện...
Thứ ba và đang chiếm tỷ trọng lớn nhất, là khai thác số (digital exploitation): streaming platforms như YouTube, Spotify, TikTok, Apple Music, cùng các hình thức sync (sử dụng trong quảng cáo, nội dung video). Ngoài ra vẫn còn nhạc chuông, nhạc chờ, dù đã giảm so với giai đoạn trước. Năm 2025, VCPMC thu hơn 424 tỷ đồng, cho thấy hệ thống đang vận hành hiệu quả và minh bạch hơn rất nhiều.
Cách phân chia tiền tác quyền hoạt động theo cơ chế ủy quyền tập trung. Nghệ sĩ ký hợp đồng ủy quyền với VCPMC, trung tâm sẽ đại diện đàm phán, cấp phép và thu phí từ các đơn vị sử dụng. Sau khi trừ phí quản lý (hiện khoảng 15-20%, có xu hướng giảm dần), phần còn lại được phân phối theo tần suất sử dụng thực tế của từng tác phẩm, dựa trên dữ liệu báo cáo và phần mềm chuyên dụng. Phân phối định kỳ là 4 quý/năm.
Điểm quan trọng là tác giả sáng tác thường hưởng tỷ lệ cao từ quyền tác giả (copyright), trong khi ca sĩ biểu diễn có thể hưởng thêm từ quyền liên quan (related rights) nếu nắm bản ghi âm (master). Nhiều nghệ sĩ kiêm sáng tác tối ưu được cả hai luồng thu nhập này. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hợp đồng cũ khiến nghệ sĩ chỉ nhận được tỷ lệ thấp, vì vậy khâu đàm phán hợp đồng ban đầu cực kỳ quan trọng.
|
| Phan Mạnh Quỳnh là ca sĩ kiêm nhạc sĩ nên càng tối ưu được nguồn thu. Ảnh: FBNV. |
Ai đang kiếm tiền nhiều nhất?
Về top nghệ sĩ có doanh thu tác quyền nổi bật, theo quan sát của ông Khôi Phan, lợi thế thuộc về những người sở hữu catalog (kho tác phẩm hay danh mục bản quyền) mạnh, bài hát có độ phủ và sức sống lâu dài. Nguyễn Văn Chung là cái tên tiêu biểu, thường xuyên nằm trong nhóm dẫn đầu với thu nhập ổn định từ nhiều nguồn.
Bên cạnh đó là các nhạc sĩ lão luyện như Khánh Đơn, Thanh Sơn, Nguyễn Ngọc Thiện, hay thế hệ trẻ kiêm ca sĩ - sáng tác như Phan Mạnh Quỳnh, Mr. Siro, Khắc Việt... Những nghệ sĩ này khai thác tốt cả quyền tác giả lẫn quyền biểu diễn. Thậm chí các tác phẩm kinh điển của Trịnh Công Sơn vẫn đóng góp rất lớn cho người thừa kế nhờ giá trị bền vững.
"Tổng thể, trong góc nhìn marketing, bản quyền không chỉ là nguồn thu thụ động mà còn là tài sản trí tuệ cốt lõi, góp phần xây dựng giá trị thương hiệu lâu dài cho nghệ sĩ. Thị trường Việt Nam đang hội nhập tốt hơn, đặc biệt sau khi lọt top 50 quốc gia về doanh thu bản quyền âm nhạc. Nhưng để tối ưu, nghệ sĩ cần chiến lược rõ ràng từ khâu sáng tạo, đăng ký quyền đến phân phối đa kênh", chuyên gia nói với Tri Thức - Znews.
|
| Hòa Minzy hiện là một trong những giọng ca nổi bật trên thị trường nhưng cô không sáng tác nên thu nhập chủ yếu đến từ biểu diễn, quảng cáo... Ảnh: FBNV. |
Khi được hỏi về thế hệ trẻ như Sơn Tùng M-TP, Hòa Minzy, MCK… ông Khôi Phan cho biết bức tranh thu nhập từ tác quyền với những cái tên kể trên có phần khác.
Sơn Tùng M-TP là trường hợp điển hình của nghệ sĩ kiểm soát tốt hệ sinh thái riêng. Anh không chỉ là ca sĩ mà còn là người sáng tạo, sở hữu công ty M-TP Entertainment, nên kiểm soát khá mạnh quyền tác giả và quyền master (bản ghi âm). Với lượng stream và view khổng lồ trên YouTube, TikTok cùng các nền tảng số, Sơn Tùng chắc chắn nhận được khoản thu nhập đáng kể từ digital royalties (tiền bản quyền kỹ thuật số). Tuy nhiên, phần lớn doanh thu của anh vẫn đến từ touring (biểu diễn), đại diện thương hiệu và sản xuất dự án cá nhân hơn là thuần túy từ quỹ VCPMC. Sơn Tùng đại diện cho mô hình nghệ sĩ hiện đại, đó là xây dựng catalog cá nhân mạnh, giảm phụ thuộc vào bên thứ ba.
Hòa Minzy là giọng ca ballad được yêu thích, có nhiều ca khúc hit được khai thác rộng trên radio, sự kiện và nền tảng nghe nhạc. Hòa Minzy nhận được tiền từ việc biểu diễn và sử dụng tác phẩm, nhưng phần tác quyền thuần túy có thể chưa ở mức “khủng” như top nhạc sĩ. Dù vậy, với độ phủ sóng ổn định, catalog của Hòa Minzy đang mang lại nguồn thu thụ động ngày càng tốt hơn.
Trong khi đó, MCK đại diện cho làn sóng hip-hop/rap underground lên mainstream. Thể loại này rất mạnh về digital consumption (tiêu thụ kỹ thuật số), đặc biệt TikTok và YouTube. Rapper thường tự viết lời, tự sản xuất beat hoặc hợp tác chặt chẽ, nên họ có lợi thế kiểm soát quyền. MCK đang ở giai đoạn thăng tiến mạnh, lượng tương tác cao giúp anh hưởng lợi từ streaming royalties (tiền bản quyền phát trực tuyến). Tuy nhiên, so với các nghệ sĩ có catalog lâu năm, thu nhập tác quyền của anh có thể chưa đạt đỉnh nhưng đang tăng trưởng rất nhanh nếu anh tiếp tục xây dựng catalog bền vững.
Theo chuyên gia, thế hệ trẻ thường ưu tiên mô hình “360 độ” kết hợp biểu diễn, đại diện thương hiệu và nội dung số hơn là trông chờ chính vào tiền bản quyền từ VCPMC. Những ai khéo léo sở hữu master recording (bản ghi âm gốc) và đăng ký quyền bài bản sẽ tối ưu hóa thu nhập nhất. Thị trường đang chuyển dịch, tiền bản quyền ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, nên các nghệ sĩ trẻ có lợi thế nếu họ đầu tư sớm vào quyền sở hữu trí tuệ.
Câu chuyện về những chiếc nhãn dán bệnh lý và bản ngã bị đánh mất được khắc họa trong cuốn Người lạ với chính ta của nhà báo Rachel Aviv. Một tác phẩm đã tạo ra nhiều tranh luận vì sự sắc bén, khách quan và đầy tính nhân văn. Tác giả không đơn thuần ghi chép những hồ sơ bệnh án khô khan, mà mở ra cho độc giả một hành trình khám phá sự mong manh của tâm trí khi đứng trước những định nghĩa được gắn nhãn bởi y khoa.
Người lạ với chính ta không đưa ra đáp án đơn giản. Nó mời độc giả bước vào vùng biên giới mong manh giữa "ý nghĩa" và "bằng chứng", nơi đôi khi cả hai không gặp nhau. Và trong ranh giới ấy, điều đáng sợ nhất không phải là căn bệnh, mà là khoảnh khắc ta không còn nhận ra chính bản thân mình.