Chùa Phật Tích ra đời dưới triều Lý Thánh Tông, thời kỳ rực rỡ nhất của vương triều Lý. Chùa được xây dựng năm 1057, lúc Lý Thánh Tông mới lên ngôi được 3 năm. Ông vua từ bi, thông tuệ và anh hùng này, trước đó 27 năm, với cương vị là Đông Cung Thái tử, đã giúp vua cha trị vì đất nước và thể hiện bản lĩnh của một vị vua hiền, thực lòng yêu nước, thương dân trong tương lai.
|
| Ảnh: FB Mekong Heritage. |
Trên lĩnh vực tinh thần, nhà vua đã đóng góp nhiều công sức trong việc nâng cao và củng cố giá trị truyền thống dân tộc trên cơ sở tiếp thu tinh hoa của Phật giáo và xây dựng Phật giáo Việt Nam mang bản sắc dân tộc.
Năm 1057, nhà vua đã xây dựng tháp Báo Thiên cao 12 tầng và đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng chùa Phật Tích cũng vào năm này, với quy mô hoành tráng, tòa ngang dãy dọc, lộng lẫy một vùng.
Năm 1066, nhà vua lại cho xây ở đây một cây tháp cao, trong đó có bức tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng.
Năm 1071, nhà vua du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ Phật dài tới hơn 5m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi.
Vì sao vua Lý Thánh Tông rất quan tâm đến chùa Phật Tích?
Tôi nghĩ rằng, ông không chỉ đóng góp vào việc xây dựng chùa này mà còn đặt vào đây hoài bão lớn của cả dân tộc Việt Nam mà ông là đại diện. Nếu như trước đây, vua Lý Thái Tổ đã viết Chiếu dời đô để chuyển kinh đô từ Hoa Lư về thành Đại La thì ngày nay vua Lý Thánh Tông lại ban hành một bản chiếu mới, đó là Chiếu dựng nước. Chiếu không viết bằng văn chương mà lại bằng một công trình kiến trúc kỳ diệu, một công trình thể hiện ba mặt khăng khít với nhau trong quan hệ Phật giáo với dân tộc.
Sự cao cả của đời sống tinh thần.
Sự kỳ vĩ của thắng cảnh thiên nhiên.
Sự tinh vi của tâm hồn thẩm mỹ.
Vua Lý Thánh Tông đã thực sự muốn biến công trình này thành một bản tuyên ngôn của dân tộc về mối quan hệ giữa chính quyền và thần quyền, giữa kinh tế và văn hóa, giữa Tổ quốc và tôn giáo, và đặc biệt là giữa tinh hoa Phật giáo và truyền thống dân tộc. Mối quan hệ này đã tạo nên sức mạnh trường tồn của nhân dân ta.
Lấy tình thương là lẽ sống,
Lấy trí tuệ để soi đường,
Lấy khí phách anh hùng để xây dựng nước
và giữ nước.
Cùng quá trình tôn tạo và phát triển, chùa Phật Tích đã dần dần trở thành một tụ điểm văn hóa tiêu biểu cho cả dân tộc. Đây là một điều hiếm có, một vinh dự đặc biệt của chùa Phật Tích. Tại đây, nhà Trần đã xây dựng một thư viện lớn. Khoa thi Thái học sinh năm 1384 được tổ chức tại chùa. Vua Trần Nhân Tông đã có lần lưu lại và sáng tác tập Bảo Hòa dư bút dày tới 8 quyển tại chính ngôi chùa.
Vào thế kỷ XV, đại thi hào Nguyễn Trãi đã thăm chùa và có bài Tiên Du tự. Vào thế kỷ XVIII, vua Lê Hiển Tông (trị vì 1740 - 1786), đã mở một đại yến hội ở nơi đây.
2. Gần 1.000 năm đã trôi qua, chùa Phật Tích đã trải qua nhiều bước thăng trầm, bị đổ nát lại được trùng tu, bị phá hủy lại được khôi phục.
Đặc biệt, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa đã bị tàn phá nhiều và bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947.
Ngày nay, thăm lại chùa, tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều vui mừng khi thấy chùa Phật Tích được tái hiện vừa cổ kính, vừa tân kỳ, đáp ứng được lòng mong mỏi của toàn thể nhân dân ta qua các chặng đường của ngàn năm lịch sử. Sự tồn tại của chùa Phật Tích trải qua bao lần bị phá hủy và được khôi phục, thể hiện một sức sống bất diệt. Sự bất diệt ấy chính là sức sống vĩnh cửu của Tổ quốc ta qua muôn ngàn gian nan, thử thách.
“Đem đại nghĩa thắng hung tàn.
Lấy chí nhân để thay cường bạo”.
(Bình Ngô đại cáo)
Sự khẳng định của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo là chân lý lịch sử trên đất Việt Nam.
Không có gì khuất phục được những con người sống quang minh chính đại.
Không có gì hủy diệt được một dân tộc văn hiến, anh hùng.
Tôi nghĩ rằng, chùa Phật Tích sẽ mãi mãi tượng trưng cho mối quan hệ giữa Tổ quốc và Phật giáo, mãi mãi tiêu biểu cho những truyền thống vẻ vang ấy của đất nước và con người Việt Nam chúng ta.