Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Tri thức trực tuyến nếu mạng chậm. Đóng

Mini Magazine

Vốn đi theo địa chính trị - Thiết kế giải pháp vốn cho ngành xuất khẩu

Khoảng 80% vốn huy động của hệ thống ngân hàng Việt Nam là ngắn hạn, trong khi các ngành xuất khẩu cần vốn dài hạn để nâng cấp công nghệ và vốn lưu động phủ trọn chu kỳ sản xuất.

Năm 2025, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu vượt 930 tỷ USD. Cùng năm, quy mô GDP theo giá hiện hành là 514 tỷ USD. Kim ngạch là giá trị hàng hóa chứ không phải giá trị gia tăng, nên không thể xem tỷ lệ này như một tỷ trọng đóng góp; nhưng độ lớn của nó nói lên một điều khó bàn cãi: Xuất khẩu không đơn thuần là một "khu vực”" của kinh tế Việt Nam, đó là điều kiện sinh tồn.

Bên trong con số kỷ lục ấy là một cấu trúc lệch. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đóng góp 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3% kim ngạch. Khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%. Đây chính là khối chịu sức ép lớn nhất và phụ thuộc nhiều nhất vào tín dụng trong nước.

Cùng lúc này, dòng vốn quốc tế đang dịch chuyển theo bản đồ rủi ro địa chính trị và chịu sức ép giải ngân. Do đó, nếu giải pháp vốn được thiết kế đúng kỳ hạn và đúng đường ra, nhu cầu vốn của doanh nghiệp sẽ được đáp ứng.

xuất khẩu  ảnh 1

Xuất khẩu hàng hóa năm 2025 đạt 475,04 tỷ USD, nhưng kim ngạch từ khu vực kinh tế trong nước - khối phụ thuộc nhiều nhất vào tín dụng nội địa - lại giảm 6,1%. Ảnh: Quỳnh Danh.

Cấu trúc 80/20 và nghịch lý gây ra "nút thắt" vốn cho doanh nghiệp Việt

Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7, Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng nói thẳng: Các ngân hàng sẽ không dư dả vốn để cung ứng cho tín dụng, đặc biệt với rất nhiều dự án lớn sắp triển khai. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn xác nhận nguyên nhân cấu trúc: Khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, trung và dài hạn chỉ khoảng 20%, trong khi nhu cầu vay trung dài hạn của doanh nghiệp là rất lớn.

Tính đến ngày 26/6, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 7,41% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn chỉ tăng 5,02%. Tiền cho vay ra đang nhanh hơn tiền huy động vào.Đó là lý do cơ quan điều hành đã chủ động mở dư địa. Thông tư 25/2026/TT-NHNN, ban hành ngày 22/6 và có hiệu lực từ 1/7, đã nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được dùng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%.

xuất khẩu  ảnh 2

Tuy nhiên, trần được nâng nhưng nguồn chưa đổi. Phần vốn dài hạn mà các ngành xuất khẩu cần để thay thiết bị, nâng công nghệ theo chuẩn quốc tế hay triển khai dự án mới sẽ phải tìm thêm nguồn ngoài bảng cân đối của ngân hàng trong nước.

Nhu cầu ấy đã đến hạn. Theo nghiên cứu của Angels 4 Us trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thủy sản niêm yết, lớp thiết bị đang khấu hao 7-15 năm phần lớn thuộc thế hệ 2014-2017: Trước thẻ vàng IUU (tháng 10/2017), trước truy xuất số, và trước mốc 1/1/2026 - thời điểm quy định nhập khẩu theo Đạo luật Bảo vệ động vật có vú ở biển (MMPA) của Mỹ bắt đầu cấm nhập sản phẩm từ những nghề cá không được công nhận tương đương. Lớp tài sản ấy được đầu tư theo bộ tiêu chuẩn của giai đoạn trước, còn tiêu chuẩn thị trường thì đã đổi - khoảng cách đó chỉ lấp được bằng vốn dài hạn.

Theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN, cho vay ngắn hạn có thời hạn tối đa 1 năm. Trên thực tế, thuyết minh báo cáo tài chính đã kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết cho thấy khế ước nhận nợ vốn lưu động thường được giải ngân theo vòng 3-6 tháng.

Trong khi đó, với một doanh nghiệp cá tra khép kín - tự làm giống, tự nuôi nguyên liệu rồi chế biến và xuất khẩu - thời gian trôi qua của một vòng vốn, tính từ lúc bỏ tiền ra đến lúc thu tiền về, vào khoảng 300-480 ngày, tức 10-16 tháng.

Cần nói rõ đây không phải chu kỳ luân chuyển tiền mặt trên báo cáo tài chính - chỉ tiêu kế toán đó ngắn hơn nhiều, vì các lô gối đầu nhau và vì phần nguyên liệu mua ngoài không đi qua giai đoạn nuôi. Đây là độ dài thật của một vòng vốn, và nó cho biết doanh nghiệp phải tự thu xếp tiền trong bao lâu trước khi có dòng tiền về. Ba hệ quả:

  • Đảo nợ giữa chu kỳ - trả và vay lại khi hàng còn trong kho hoặc trên biển, mỗi vòng là một lần xin lại hạn mức;
  • Bán theo kỳ hạn nợ thay vì theo giá - bán sớm, chốt giá thấp để có dòng tiền trả nợ đúng hạn, thay vì giữ hàng chờ giá tốt hơn;
  • Khó đón cơ hội dài hạn - khi xuất hiện một đơn hàng dài hoặc cơ hội mở rộng vùng nguyên liệu, doanh nghiệp vẫn phải cân nhắc rất kỹ, vì những tháng đầu chu kỳ chưa có nguồn vốn nào đứng sau.

Hạ lãi suất, tự nó, chưa tháo được nút thắt. Vấn đề nằm ở kỳ hạn trước khi nằm ở giá vốn.

Đáng nói, thuyết minh báo cáo tài chính của một doanh nghiệp tôm đầu ngành cho thấy khoản vay lớn nhất, lên đến gần 2.000 tỷ đồng tại một ngân hàng quốc doanh, là để bổ sung vốn lưu động, bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và máy móc thiết bị. Điều này có nghĩa tài sản có tuổi thọ 15-30 năm đang bảo đảm cho khoản nợ dưới 12 tháng. Khi năng lực thế chấp đã dùng hết cho hạn mức ngắn hạn, khoản vay đầu tư 10 năm không còn chỗ đứng.

Chính sách vốn quốc tế có sẵn nhiều công cụ có thể vận dụng cho những tình huống như thế này. Nhưng công cụ chỉ phát huy hiệu quả khi hai việc được làm trước và làm đúng, là xác định chính xác nút thắt vốn của từng ngành, và xác định chính sách vốn quốc tế nào tháo được đúng nút thắt đó. Thiếu một trong hai, công cụ dù tốt đến đâu cũng không giải quyết được gì.

Dòng vốn thế giới đang tìm chỗ đứng

Vốn phản ứng với địa chính trị nhanh hơn hàng hóa. Ở đâu có xung đột, rủi ro chính trị hay cấm vận, dòng tiền tại chỗ tìm đường ra ngoài, đến nơi có pháp quyền ổn định, thuế rõ ràng, đường vào và ra minh bạch. Singapore là ví dụ rõ nhất. Phát biểu tại UBS Asia Wealth Forum tháng 1/2025, ông Chee Hong Tat - Phó chủ tịch Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), Bộ trưởng Tài chính thứ hai - cho biết số single family office tại đây đã tăng từ 1.400 cuối năm 2023 lên hơn 2.000 cuối năm 2024, gấp khoảng 10 lần so với 5 năm trước đó.

Nút thắt nằm ở đây: Tiền đã đến nơi an toàn, nhưng an toàn thì không sinh lợi. Cái các quỹ này thiếu không phải vốn, mà là cơ hội đọc được - rủi ro mô tả được, đường ra nằm gọn trong khung thời gian họ chọn. Và họ đang dịch chuyển đúng về hướng ấy. Khảo sát family office toàn cầu năm 2025 của BlackRock, thực hiện với 175 single family office quản lý trên 300 tỷ USD, cho thấy tài sản thay thế đã chiếm 42% danh mục bình quân (so với 39% ở khảo sát trước), và 32% số văn phòng dự kiến tăng phân bổ vào tín dụng tư nhân trong giai đoạn 2025-2026. Đây là tỷ lệ cao nhất trong mọi nhóm tài sản thay thế, và cũng là nơi các cấu trúc tài trợ vốn lưu động và tài trợ thương mại khu vực đổ về.

xuất khẩu  ảnh 3

Dòng vốn quốc tế đang tìm đường giải ngân, và có thể tìm đến một ngành xuất khẩu của Việt Nam bằng nhiều hướng. Ảnh: Nam Khánh.

Từ đây, dòng vốn ấy vào Việt Nam theo một trong hai đường. Đường thứ nhất đi qua tầng ngân hàng: vốn quốc tế vào bảng cân đối của ngân hàng trong nước, rồi đi ra thị trường theo đúng bộ tiêu chí, đúng kỳ hạn và đúng yêu cầu tài sản bảo đảm của tín dụng ngân hàng - nghĩa là nút thắt kỳ hạn và nghịch lý tài sản bảo đảm nói trên có thể vẫn còn nguyên, tùy chính sách của từng ngân hàng. Đường thứ hai đi thẳng vào ngành xuất khẩu, theo kỳ hạn của chu kỳ sản xuất thật, dựa trên hợp đồng với người mua nước ngoài thay vì tài sản thế chấp trong nước. Đường thứ nhất đã có sẵn. Đường thứ hai là phần chưa được thiết kế.

Khi đường ra trở thành tiêu chí thiết kế, bộ công cụ mở rộng: Nhà đầu tư quốc tế hôm nay có thể vào một ngành xuất khẩu bằng nhiều lớp, mỗi lớp một kỳ hạn. Ngắn hạn là gói tài trợ vốn lưu động theo hợp đồng và ứng trước tiền hàng theo đơn đã ký. Trung hạn là khoản vay có kỳ hạn khớp chu kỳ sản xuất thật của ngành, thay vì khớp kỳ hạn huy động của một ngân hàng. Chuyển tiếp là cho vay chuyển đổi, vào bằng khoản vay, chuyển sang cổ phần nếu doanh nghiệp đi đúng hướng, bước đi tự nhiên của nhà đầu tư thận trọng. Dài hạn là đồng đầu tư cổ phần, thường gắn với quyền mua dài hạn theo một tỷ lệ nhất định để bảo đảm nguồn cung cho chính bên đầu tư.

Cho vay chuyển đổi cần thiết kế kỹ từ đầu, đảm bảo giá bán, tỷ lệ sở hữu và điều kiện chuyển đổi được chốt nguyên tắc cùng lúc với khoản vay, để khi chuyển đổi vẫn nằm trong khung điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo ngành và ngưỡng thông báo tập trung kinh tế.

Chuẩn bị ở cấp ngành: Nơi hai "nút thắt" tháo cho nhau

Với hàng xuất khẩu, điều quan trọng là chính sách của nước nhập khẩu. Thuế quan, đứt gãy chuỗi cung ứng và làn sóng luật an ninh kinh tế đã đổi câu hỏi của bên mua từ "mua ở đâu rẻ nhất" sang "nguồn cung nào được nhà nước bảo đảm bằng chính sách". Khi một mặt hàng Việt Nam được công nhận chính thức là thiết yếu, nhà đầu tư có thể tài trợ một phần vốn đầu tư dự án; đồng đầu tư cổ phần đổi lại quyền mua dài hạn theo một tỷ lệ để bảo đảm nguồn cung; bảo hiểm để doanh nghiệp nước đó yên tâm mua hàng và ứng trước tiền hàng; đầu tư và cho vay vào doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng của họ.

Với nhà đầu tư tài chính, một nguồn cầu có ngân sách nhà nước đứng sau bền hơn một dự báo tăng trưởng.

Dù vậy, mỗi ngành hàng có một nút thắt riêng, và giá trị thực tế chỉ xuất hiện khi phần chuẩn bị được đặt đúng vào chỗ ấy.

Có 4 câu hỏi thường được đặt ra sớm nhất khi một ngành bắt đầu nhận diện nút thắt. Có chính sách không đồng nghĩa với được hỗ trợ, quan trọng là phải đáp ứng điều kiện gì; riêng Nhật Bản có trên 6 kênh, mỗi kênh một bộ điều kiện riêng. Đây không phải viện trợ, mà là nước nhập khẩu bỏ tiền mua sự bảo đảm nguồn cung cho chính họ, nên bên bán có vị thế đàm phán thật. Nhận hỗ trợ cũng không đồng nghĩa với lệ thuộc, bởi các chương trình không đòi cung cấp độc quyền, không đòi nắm đa số. Và có chính sách khuyến khích bao tiêu không có nghĩa khách sẽ mua ngay, khách chỉ cam kết dài hạn khi chính họ chắc được đầu ra.

Trong lĩnh vực tiếp cận vốn chính sách quốc tế, điều quan trọng nhất là làm đúng ngay từ đầu: một hồ sơ hỏng ở vòng đầu để lại tiền lệ lâu hơn nhiều so với thời gian chuẩn bị nó. Đây không phải vấn đề năng lực của doanh nghiệp, mà là vấn đề cấu trúc: Một hồ sơ nộp riêng lẻ chỉ mô tả được nút thắt và giá trị cơ hội trong một mắt xích của chuỗi cung ứng, trong khi bên xét duyệt cần nhìn cả chuỗi. Hồ sơ chưa đúng chuẩn mà đối tác quốc tế mong đợi không chỉ khó qua vòng đầu, mà còn làm khó những hồ sơ đi sau của cùng ngành.

Angels 4 Us rút ra nguyên tắc này từ một dự án thí điểm, đi từ nhận diện một mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam nằm trong nhóm hàng thiết yếu của Nhật Bản, rồi đi trọn quy trình chuẩn bị cần thiết để tiếp cận được bộ điều kiện của các chính sách mà Nhật Bản dành cho mặt hàng đó. Từ dự án này, chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang nhiều mặt hàng xuất khẩu khác của Việt Nam đang được các nước nhập khẩu xếp vào nhóm thiết yếu (thuộc an ninh kinh tế, an ninh lương thực và các nhóm tương tự) và đang có chính sách hỗ trợ đi kèm. Theo rà soát này, đã có hơn 10 quốc gia có chính sách có thể áp dụng cho nhiều ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam. Phần nghiên cứu nền cùng kinh nghiệm triển khai dự án thí điểm là cơ sở để rút ngắn các bước còn lại cho những ngành đi sau.

Cũng cần lưu ý rằng chính sách vốn quốc tế được chính phủ các nước thiết kế theo tình hình thực tế và diễn biến tương lai. Khi chính phủ các nước đang nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam có được đánh giá toàn diện về những nút thắt mà ngành Việt Nam đang gặp, đồng thời nhìn ra cơ hội đằng sau những nút thắt đó, thì sẽ mở ra cơ hội ban hành, sửa đổi chính sách và quyết định ngân sách cho các năm sau.

Do đó, chuẩn bị kỹ ở cấp ngành sẽ đẩy nhanh tiến độ huy động vốn của từng doanh nghiệp trong ngành. Với đặc thù của vốn chính sách quốc tế, việc tìm ra luật sư phù hợp tại nước có chính sách sẽ đẩy nhanh quá trình chuẩn bị đầy đủ và đúng hướng, để ngành tiếp cận được và hiểu đúng bộ điều kiện đề ra. Đây là yếu tố quan trọng nhất trong các giao dịch dựa trên chính sách. Khi luật sư đó am hiểu sâu về an ninh kinh tế và đã trực tiếp tham gia soạn thảo chính sách liên quan, đó là lợi thế lớn để cả ngành tiếp cận được bộ điều kiện thuận lợi nhất.

Trình tự đi từ cấp ngành xuống doanh nghiệp, đó là lý do vai trò của hiệp hội ngành hàng không thể thay thế. Bước một, hiệp hội đứng ra tiếp cận để nhận về bộ điều kiện, khi đó cơ quan nước bạn hướng dẫn một lần cho cả ngành, và ngành có một bộ hồ sơ chuẩn trả lời đủ những gì định chế quốc tế cần. Kết quả của bước này là tài sản chung, dùng được cho mọi hội viên. Bước hai, từng doanh nghiệp tự đánh giá theo bộ điều kiện đó, nếu đã đạt thì làm việc ngay với đối tác để nộp hồ sơ, chưa đạt thì biết cần làm gì và mất bao lâu; nhóm đã đạt đi trước làm hồ sơ mẫu, mở đường cho cả ngành. Trong hầu hết trường hợp, chỉ đối tác tại nước có chính sách mới có quyền nộp hồ sơ, nhưng nhiều điều kiện xét duyệt lại nhằm đánh giá chính doanh nghiệp Việt Nam.

Những vấn đề Việt Nam đang gặp không xa lạ. Đây là những "cơn đau" tăng trưởng mà Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Thái Lan và Singapore đều đã đi qua ở giai đoạn đầu phát triển. Tuy nhiên, trong bối cảnh địa chính trị mới, với đứt gãy và thách thức trong thương mại toàn cầu, chính sách của các nước để bảo đảm nguồn cung sẽ linh hoạt hơn, dẫn đến những chính sách chưa có tiền lệ để giải quyết những vấn đề chưa có tiền lệ.

Với mỗi ngành hàng, phần việc cụ thể vẫn là nhận diện đúng nút thắt của chính ngành mình rồi tháo đúng nút thắt đó, và giá trị thu về là của cả ngành. Đó là cơ hội để Việt Nam tháo nút thắt vốn đang dồn hết lên tín dụng trong nước, và là cơ hội để dòng vốn quốc tế ra vào Việt Nam. Nút thắt của người này là cơ hội của người kia.

xuất khẩu  ảnh 4

Bà Phan Đình Phương Anh là Đồng sáng lập và Cộng sự (phụ trách thiết kế giải pháp vốn và điều phối các bên triển khai) của Angels 4 Us - một công ty tư vấn Việt Nam đang triển khai chuỗi chương trình xác định nút thắt vốn theo từng ngành xuất khẩu và thiết kế giải pháp tháo gỡ nút thắt đó bằng chính sách vốn của các nước nhập khẩu.

Bà tốt nghiệp cử nhân Quản Trị Luật tại Đại Học De La Salle University (Philippines). Trước khi đồng sáng lập Angels 4 Us, bà từng là Thành viên HĐQT CTCP Cáp và Vật liệu Viễn thông, nay là CTCP Sam Holdings (HoSE: SAM), một trong những công ty đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; đồng thời có thời gian phụ trách thẩm định đầu tư tại Mekong Capital.

Ngân hàng đầu tiên giảm lãi vay sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước

NCB vừa ra thông báo giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, áp dụng từ ngày 11/8.

Cá, tôm, cua... vẫn phải 'còng lưng' gánh chi phí logistics

Dù đà tăng đã chậm lại so với tháng trước, các nhà xuất khẩu thủy sản vẫn phải gánh trên vai khoản chi phí cước vận chuyển lớn.

NHNN yêu cầu giảm ít nhất 1% lãi vay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

NHNN đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Phan Đình Phương Anh

Bạn có thể quan tâm