|
Đến nay, phụ nữ vẫn là lao động chính trong ngành dệt may. Ảnh minh họa: A.X. |
Việc tiêu thụ vải vóc cũng được phân biệt theo giới. Ở Anh vào thế kỷ 18, phụ nữ thường là người mua vải vóc và quần áo, chẳng hạn như áo sơ mi bằng vải lanh, cho gia đình họ.
Sarah Arderne, một thành viên đã lập gia đình thuộc tầng lớp quý tộc cấp thấp ở miền Bắc nước Anh vào cuối thế kỷ 18, đã dành rất nhiều thời gian và tiền bạc cho những món đồ làm bằng vải lanh của chồng mình, như sổ thu chi của bà tiết lộ.
Bà đã mua cho chồng vải muslin để may cà vạt và khăn mùi xoa, đồng thời như giám sát việc giặt ủi những món đồ bằng vải lanh của ông ấy. Một mục ghi chú vào tháng 4 năm 1745 viết: “Đã trả tiền cho Mary Smith vì may mười chiếc áo sơ mi kiểu Hà Lan cho Chúa tể Yêu quý của tôi”.
Việc đảm bảo nhu cầu của chồng là khoản chi lớn nhất của bà, chiếm đến 36% tổng chi tiêu hàng năm, trong khi chi phí dành cho việc chăm sóc năm đứa con chỉ chiếm 9%.
Công việc may vá, kéo sợi và những kỹ năng khác liên quan đến dệt may mang lại cho phụ nữ một phương tiện thể hiện. “Cây kim chính là chiếc bút lông của bạn,” Đinh Bội (Ding Pei), một nữ thợ thêu nổi tiếng, đã viết trong một bài luận được xuất bản vào năm 1821.
Kéo sợi, làm ren, nuôi tằm và nhiều nghề thủ công khác liên quan đến dệt may có thể đã đem lại cho phụ nữ quyền lực và địa vị kinh tế. Ví dụ, ở Anh vào năm 1750, kéo sợi là hình thức làm việc được trả lương phổ biến nhất dành cho phụ nữ và là công việc có thu nhập khá cao.
Người ta ước tính những phụ nữ độc thân thời đó có thể quay được khoảng 2,7 kg len mỗi tuần; trong khi những phụ nữ có gia đình chỉ có thể quay được khoảng 1,1 kg. Dựa trên mức tiền công được đưa ra khi đó, một phụ nữ độc thân trong một tuần có thể kiếm được số tiền ngang một thợ dệt lành nghề, thường là nam giới và tham gia các phường nghề, đồng nghĩa công việc của họ được cho là có giá trị hơn. Chỉ tới gần đây, từ spinster (thợ kéo sợi) mới mang những ý nghĩa tiêu cực.
Kể cả khi không thể kỳ vọng được trả công ngang bằng với đàn ông, phụ nữ vẫn có thể hoàn toàn tránh được cảnh nghèo đói nếu họ sở hữu được những kỹ năng sử dụng con suốt, khung cửi hoặc cây kim.
Điều này chính là giả định nằm sau yêu cầu phải để phụ nữ xe sợi trong Arthashastra: “Việc kéo sợi phải được phụ nữ thực hiện đặc biệt là những người phụ thuộc vào nó để kiếm sống.
Tương tự, một đạo luật được thông qua ở Amsterdam vào năm 1529 đã ra lệnh “tất cả những cô gái nghèo… không có khả năng làm bất cứ công việc may vá nào” phải báo cáo ở một vài địa điểm trong thành phố, nơi họ sẽ được dạy công việc kim chỉ để kiếm sống.
Chỉ hơn một thế kỷ sau, tại thành phố Toulouse miền Nam nước Pháp, những chức sắc của thành phố nhận thấy có quá nhiều phụ nữ nghèo tham gia vào việc làm ren đến mức thiếu người giúp việc gia đình. Thế là họ cũng thông qua một đạo luật, lần này là để cấm làm ren.
Ngày nay, mặc dù máy móc và sự kỳ vọng rằng việc sản xuất phải được thực hiện tại các nhà máy trong giờ làm việc đã xóa bỏ những lý do ban đầu khiến dệt may trở thành “công việc của phụ nữ” nhưng mối liên kết ấy vẫn duy trì.
Ở Bangladesh, có khoảng 4 triệu người làm việc trong ngành dệt may; 80% trong số đó là phụ nữ. Nhưng chỉ có một phần rất nhỏ, khoảng 150.000 người vào năm 2015, được các công đoàn đại diện.