Ban đầu Roosevelt có một vị cố vấn tài chính cấp cao, ông là James Warburg, con trai của Paul Warburg - “Cha đẻ của Cục Dự trữ Liên bang”, nếu tính theo niên phận thì hẳn là “anh em” của Cục Dự trữ Liên bang. Năm 25 tuổi, James giữ chức Phó Chủ tịch Ngân hàng Chấp nhận Thanh toán Quốc tế.
Tiếp bước cha mình, Paul, ông đã mở ra một thế giới mới trên thị trường hóa đơn chấp nhận hối phiếu của Mỹ và thiết lập vị trí thống trị của đồng đôla trong thanh toán thương mại quốc tế. Khi mới 37 tuổi, ông đã trở thành trùm tài chính trẻ tuổi nhất Phố Wall và giữ chức phó chủ tịch hội đồng quản trị của ngân hàng Manhattan (tiền thân của ngân hàng JP Morgan Chase ngày nay).
Vốn dĩ Roosevelt đã chuẩn bị để ông đảm nhận chức vụ quan trọng là thư ký Bộ Tài chính, nhưng với tư cách là cầu nối giữa Roosevelt và Phố Wall, ông muốn làm cố vấn riêng của Tổng thống. Tính cách của James không được ổn định cho lắm, có lẽ vì tuổi trẻ nông nổi nên ông dần hình thành quan điểm đối đầu gay gắt với Roosevelt, thậm chí còn công khai chỉ trích Chính sách Kinh tế Mới của Roosevelt trên báo chí. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tương lai chính trị của ông.
|
| Phố Wall gắn liền với những tên tuổi tài chính tài năng. Ảnh: The Times of India. |
Sau khi Tổng thống xa lánh James, vị trọng thần dưới thời Roosevelt, Bộ trưởng Tài chính Morgenthau đã tiến cử người thầy của mình, George Warren, giáo sư kinh tế nông nghiệp tại Đại học Cornell, làm cố vấn kinh tế của Tổng thống.
Roosevelt vốn rất ngưỡng mộ lý thuyết tái lạm phát giá cả của Warren. Mặc dù bản thân Tổng thống không hiểu biết nhiều về kinh tế học nhưng trực giác của ông đã mách bảo ông rằng giá cả tăng là lối thoát cho cuộc khủng hoảng. Và tư tưởng của Warren đã đáp ứng hoàn hảo mong đợi của Roosevelt.
Warren đã dành 10 năm để điều tra nguyên nhân sâu xa của sự sụt giảm giá nông sản kể từ những năm 1920 và xuất bản cuốn sách nổi tiếng mang tên 1720-1932: Giá bán buôn trong 213 năm vào năm 1932. Ông đã đưa ra kết luận rằng: Có một mối tương quan rõ ràng giữa giá vàng và giá hàng hóa, vàng nhiều thì giá cả tăng, vàng ít thì giá cả sẽ giảm.
Bản thân kết luận này không có gì đặc biệt. Vàng vốn là nền tảng của mở rộng tín dụng. Vàng tăng sẽ dẫn đến mở rộng tín dụng tiền tệ và giá hàng hóa đương nhiên sẽ tăng. Nhưng do vào đầu những năm 1930, tư tưởng Chủ nghĩa Tiền tệ vẫn chưa xuất hiện nên Roosevelt cảm thấy rất mới mẻ với nhận định này.
Điều bùng nổ hơn nữa là Warren đã đề xuất một “công thức bí mật” để giải quyết tình trạng giá cả lao dốc: Vì vàng tăng có thể khiến giá tăng, nên việc giảm tỉ giá đồng đô-la so với vàng sẽ tương đương với việc gia tăng tổng lượng vàng, như vậy chẳng phải cuộc khủng hoảng đã được giải quyết rồi sao?
Chỉ với một phương pháp đơn giản như vậy mà ông đã khiến Roosevelt cảm thấy như mình vừa tìm được một “nhà tiên tri” kinh tế. Thế là Tổng thống hạ quyết tâm, bỏ ngoài tai mọi lời can gián và chuẩn bị xử lý triệt để vấn đề của cuộc Đại suy thoái bằng cách phá giá đồng đôla so với vàng.
Trên thực tế, hai đợt phát hành tiền tệ bổ sung vào năm 1930 và 1932 và việc Roosevelt phá giá đồng đôla so với vàng là một nỗ lực từ hai khía cạnh thao túng giá trị của tiền tệ (trước là định lượng và sau là định tính) nhằm giải quyết vấn đề nợ nghiêm trọng, nhưng đáng tiếc là cả hai ý tưởng này đều không thành công.
Trong một cuộc khủng hoảng nợ trầm trọng, cách hữu hiệu nhất là xóa hoàn toàn các khoản nợ, cho phép các ngân hàng lớn phá sản, và Chính phủ sẽ nắm quyền lực tiền tệ và bơm tiền trực tiếp vào nền kinh tế, nếu cơ bản không còn nợ thì tình hình kinh tế sẽ được cải thiện nhanh chóng, sau đó sẽ để các ngân hàng dần dần tự phục hồi.
Năm 1933, Schacht của Đức đã sử dụng liệu pháp này, chỉ trong vòng 4 năm để đảo ngược hoàn toàn tình hình kinh tế của Đức - vốn tồi tệ hơn nhiều so với Mỹ bây giờ - giảm 30% tỷ lệ thất nghiệp và về cơ bản đạt được mục tiêu toàn dân đều có việc làm.
Bản chất của cuộc Đại suy thoái là: Một mặt tài nguyên và thiết bị sản xuất không được sử dụng trên quy mô lớn, mặt khác là sức lao động rơi vào tình trạng nhàn rỗi nghiêm trọng. Chỉ cần tiền tệ có thể kết hợp cả hai yếu tố này, động cơ kinh tế chắc chắn sẽ khởi động lại.
Tuy nhiên, do vấn đề nợ xấu nghiêm trọng, hệ thống ngân hàng không thể và cũng không dám cho vay giữa lúc toàn xã hội đang rất khát vốn. Nếu chỉ dựa vào việc cung cấp vốn cho các ngân hàng thương mại thông qua việc phá giá tiền tệ thì khó có thể giải quyết được bài toán nan giải là làm thế nào để tiền tệ thâm nhập được vào thực thể nền kinh tế.
Bởi vì điều kiện tiên quyết để các ngân hàng tạo ra tín dụng là phải có người vay tiền; nếu không ai vay tiền, hoặc ngân hàng ngại cho vay, thì đồng đôla do Ngân hàng Trung ương sản xuất với giá rẻ sẽ không tự động chảy vào nền kinh tế thực.
Tình trạng thất nghiệp trên diện rộng trong cuộc Đại suy thoái khiến người tiêu dùng mất sức mua, các ngân hàng ngại cung cấp tín dụng tiêu dùng cho họ; đồng thời, các công ty cũng ngại thuê người để bắt đầu sản xuất quy mô lớn vì thị trường tiêu dùng ế ẩm.
Cách để phá vỡ vòng lặp vô tận này là trước hết phải tăng việc làm trên quy mô lớn, và chỉ có việc làm mới có thể mang lại tăng trưởng tiêu dùng. Mặc dù Chính sách Kinh tế Mới của Roosevelt cũng đã có một số động thái trong vấn đề này, nhưng vẫn là quá ít so với nhiệt huyết của ông trong việc phá giá tiền tệ.
Đợt QE3 do Roosevelt khởi động bao gồm cả việc thoát ly Bản vị Vàng, tỷ giá giữa đồng đôla với vàng đã giảm từ 20,67 đôla xuống 35 đôla cho một ounce vàng, vậy là đồng đôla Mỹ đã bị phá giá đáng kể!