Nội dung trên được đề cập tại Thông báo 89 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
|
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: Tiền Phong. |
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thống nhất tên gọi Nghị quyết là "Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam".
Nghị quyết cần khẳng định tư tưởng phát triển cốt lõi của Việt Nam trong kỷ nguyên mới là xây dựng năng lực tự chủ, sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia, năng lực nhận thức trước những thay đổi mang tính thời đại, tự đổi mới thể chế, tự làm chủ tri thức và công nghệ, tự nuôi dưỡng con người sáng tạo, tự tái tạo môi trường sống, tự bảo vệ lợi ích quốc gia và tự mở rộng không gian phát triển.
Nghị quyết cần thể hiện rõ tầm nhìn dài hạn, tư duy đột phá, khát vọng dân tộc và ý chí hành động mạnh mẽ, mở đường, tạo khuôn khổ cho Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tâm thế tự tin, bản lĩnh, sáng tạo và trách nhiệm; bảo đảm sự phát triển liên tục, trường tồn của quốc gia trên cơ sở bảo tồn, phát huy bản sắc, giữ vững chủ quyền, sức sáng tạo, sức sống dân tộc qua nhiều thế hệ, có khả năng vượt qua mọi khó khăn, thách thức từ cả bên trong và bên ngoài.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận mô hình phát triển mới cần thể hiện 9 nội dung trọng yếu.
Thứ nhất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu là hạ tầng nền tảng của giai đoạn phát triển mới. Hạ tầng nghiên cứu, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng tính toán, phòng thí nghiệm trọng điểm, hệ thống tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, tài sản trí tuệ và nhân lực công nghệ được Nhà nước đầu tư dẫn dắt.
Thứ hai, tổ chức đồng bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kết nối hạ tầng - tài chính - dữ liệu - tiêu chuẩn - thị trường, với sự tham gia nòng cốt là doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học.
Nhà nước đóng vai trò kiến tạo nhiệm vụ khoa học, công nghệ, chia sẻ rủi ro, bảo vệ cạnh tranh; ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để mở đường cho công nghệ và mô hình kinh doanh mới; có cơ chế đặt hàng nghiên cứu, quỹ đầu tư mạo hiểm, sandbox công nghệ, mua sắm công đổi mới sáng tạo, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thu hút nhân tài.
Thứ ba, Nhà nước chia sẻ rủi ro cùng doanh nghiệp thông qua cơ chế hỗ trợ vốn mồi, đồng đầu tư - giữa Nhà nước và tư nhân; đầu tư công - quản trị tư; bảo lãnh rủi ro; tài trợ theo mốc kết quả; bố trí nguồn tín dụng dài hạn cho công nghệ và hạ tầng chiến lược; ưu đãi thuế cho nghiên cứu phát triển.
Trước mắt, không thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở giáo dục đại học công lập; hoàn thiện cơ chế định giá, góp vốn, thương mại hoá tài sản trí tuệ, nâng cấp thị trường khoa học, công nghệ.
Thứ tư, xây dựng khung pháp lý đồng bộ về quản trị dữ liệu quốc gia, bao gồm cả thu thập, chuẩn hoá, kết nối, chia sẻ, bảo vệ, định giá, khai thác, kiểm soát. Đẩy nhanh việc xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống dữ liệu quốc gia và dữ liệu về dân cư, đất đai, y tế, giáo dục, giao thông, doanh nghiệp, tài chính, môi trường, phòng cháy chữa cháy, tư pháp...
Thứ năm, đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong chiến lược phát triển công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giáo dục, y tế, logistics, thương mại điện tử, an ninh mạng và quản trị công. Khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý cho AI (Luật trí tuệ nhân tạo; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho phép thử nghiệm các giải pháp AI trong một số lĩnh vực).
Nhà nước kiến tạo thị trường cho AI thông qua các chương trình ứng dụng AI rộng rãi trong khu vực công; phát triển mô hình AI của Việt Nam; nghiên cứu cơ chế bảo vệ cán bộ trong thí điểm công nghệ mới khi đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng quy trình, vì lợi ích chung, không có động cơ vụ lợi nhưng không đạt kết quả như dự kiến hoặc phát sinh rủi ro khách quan; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và rút ngắn thời gian cấp bằng sáng chế cho công nghệ AI.
Thứ sáu, cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, trước hết cho các doanh nghiệp khoa học, công nghệ.
Trong đó, cần thu hút và khuyến khích hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học, công nghệ, lấy mức thuận lợi môi trường kinh doanh của các nước phát triển (như Singapore) làm mục tiêu phấn đấu tiệm cận, nhất là trong các lĩnh vực hệ thống pháp lý và bảo hộ sở hữu trí tuệ, khả năng tiếp cận nguồn vốn, hệ sinh thái nghiên cứu và phát triển (R&D) và cơ sở hạ tầng đổi mới sáng tạo, môi trường thử nghiệm cũng như chính sách đối với nhân tài khoa học, công nghệ...
Thứ bảy, thiết kế lại chính sách công nghiệp quốc gia theo hướng lựa chọn một số ngành, lĩnh vực mũi nhọn có khả năng tạo giá trị gia tăng cao, lan toả công nghệ và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Ưu tiên bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, dữ liệu, công nghiệp vật liệu, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghiệp quốc phòng - an ninh lưỡng dụng, logistics, tài chính hiện đại, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp văn hoá.
Thứ tám, cải cách mạnh mẽ hệ thống tài chính để phục vụ phát triển dài hạn, ví dụ như phát triển thị trường vốn theo chiều sâu, bảo đảm thuận lợi, minh bạch, an toàn; mở rộng các kênh huy động vốn dài hạn cho đầu tư hạ tầng, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, phát triển nhà ở xã hội, nhà cho thuê, đô thị thông minh, doanh nghiệp công nghệ.
Thứ chín, nội hàm của nghị quyết về mô hình phát triển mới phải bao trùm toàn diện các khía cạnh của chiến lược phát triển, tiến bộ quốc gia cũng như văn minh xã hội và an ninh con người.
Điển hình như năng lực tự chủ chiến lược của đất nước (làm chủ những khâu then chốt, năng lực bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dữ liệu, an ninh tài chính và an ninh chuỗi cung ứng).
Phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, giải phóng năng lực sáng tạo, nuôi dưỡng tinh thần khai phóng, kỷ luật, trách nhiệm và khát vọng cống hiến, đặc biệt trong đội ngũ cán bộ và chủ các doanh nghiệp.
Nuôi dưỡng bản sắc dân tộc, đạo đức xã hội, tinh thần cộng đồng, khát vọng vươn lên, ý chí tự cường và năng lực hội nhập văn minh của con người Việt Nam.
Cùng đó là tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia theo hướng hình thành các vùng động lực tăng trưởng, đô thị văn minh và hiện đại, xây dựng các hành lang kinh tế, trung tâm tài chính, trung tâm logistics, trung tâm đổi mới sáng tạo và các vùng sinh thái - văn hoá đặc thù.
Giải quyết được những thách thức về biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm không khí, suy thoái đất, cạn kiệt nước ngầm và rủi ro thiên tai...
|
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước. Ảnh: TTXVN. |
Chuẩn bị cho thời đại trí tuệ nhân tạo tổng quát
Về quan điểm chỉ đạo, người đứng đầu Đảng, Nhà nước nhấn mạnh mô hình phát triển mới phải đặt con người ở vị trí trung tâm, là mục tiêu, động lực và chủ thể của phát triển. Mọi chính sách phát triển phải hướng đến nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới phải có năng lực số, tư duy sáng tạo, khả năng học tập suốt đời, năng lực thích ứng nhanh với thay đổi, năng lực hợp tác trong môi trường toàn cầu, đạo đức số và tinh thần công dân số.
Nhà nước phải chuyển mạnh sang mô hình quản trị hiện đại và kiến tạo phát triển, điều hành trên nền tảng số và dữ liệu, mở đường cho đổi mới sáng tạo và giải phóng nguồn lực xã hội.
Bên cạnh đó, xã hội phải phát triển theo hướng sáng tạo, bao trùm và văn minh (xã hội học tập; xã hội sáng tạo; xã hội số; xã hội pháp quyền hiện đại và xã hội phát triển bao trùm) nơi người dân có cơ hội tiếp cận công bằng đối với giáo dục, công nghệ, dữ liệu, dịch vụ công và các cơ hội phát triển; nâng cao năng lực thích ứng và chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động trong kỷ nguyên số...
Về tầm nhìn phát triển, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, có nền kinh tế hiện đại, nền khoa học - công nghệ tiên tiến, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hạnh phúc; quốc phòng, an ninh vững chắc; uy tín và vị thế quốc tế ngày càng cao.
"Nghị quyết cần nhìn xa hơn chuyển đổi số thông thường để chuẩn bị cho thời đại trí tuệ nhân tạo tổng quát, robot tự động, sinh học tổng hợp, điện toán lượng tử, các công nghệ có khả năng thay đổi căn bản cấu trúc lao động; đồng thời, chủ động dự báo và chuẩn bị cho những thay đổi về cơ cấu ngành, nghề, lĩnh vực, yêu cầu kỹ năng lao động do tốc độ của sự phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt.
Những cuốn sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là chủ biên, tác giả của nhiều đầu sách lý luận chính trị, trong đó có những cuốn được tái bản nhiều lần.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Công an nhân dân, Tư tưởng Hồ Chí Minh về công an nhân dân, 125 câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công an nhân dân, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân - Giá trị lý luận và thực tiễn, Tham nhũng và hoạt động của Công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam là một số tác phẩm tiêu biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.