Thung lũng Silicon
Năm 1996, khi cuộc cách mạng Internet đang tăng tốc, John Perry Barlow, nhạc sĩ của ban nhạc Grateful Dead kiêm chuyên gia mạng, đã đưa ra lời cảnh báo sau: “Hỡi các chính phủ của Thế giới Công nghiệp, các người là những gã khổng lồ mỏi mệt bằng da thịt và thép, Ta đến từ Cõi không gian mạng, ngôi nhà mới của Tâm trí. Ta yêu cầu những kẻ thuộc về quá vãng như các người hãy để chúng tôi được yên. Các người không được chào đón ở đây”.
Sự ưa chuộng lối nói khoa trương của Thung lũng Silicon có thể làm người ta khó chịu. Dẫu vậy, những ý tưởng kinh doanh mà Thung lũng này tiên phong, kết hợp với công nghệ mà nó phát minh, đã đóng góp vào công cuộc tháo dỡ tập đoàn một cách sâu xa hơn nữa.
Câu chuyện về Thung lũng Silicon kỳ thực bắt đầu từ năm 1938, khi David Packard cùng một người bạn học kỹ thuật tại Stanford và Bill Hewlett mở một cửa hàng trong gara của gia đình Packard ở Palo Alto.
|
| Thung lũng Silicon đã trở thành một tên gọi quen thuộc với cả thế giới. Ảnh: International Director. |
Vào những năm 1950, Hewlett-Packard, cùng với một số công ty khác lấy cảm hứng từ Stanford, đã chuyển vào khu công viên công nghiệp mới của trường đại học này. Trong hai thập niên tiếp theo, cụm các công ty nhỏ này đã nhân rộng dần dần với sự giúp đỡ rất hào phóng từ chính phủ. Theo một thống kê, trong giai đoạn 1958-1974, Ngũ Giác Đài đã chi trả một tỉ đô-la cho các nghiên cứu về chất bán dẫn. Packard từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trong chính quyền đầu tiên của Nixon.
Đến những năm 1970, Thung lũng bắt đầu hình thành bản sắc riêng của nó. Cái tên “Thung lũng Silicon” được một nhà báo công nghệ địa phương đặt ra vào năm 1971 - phản ánh sự thành công của các nhà sản xuất chip nhớ tại đây. Trong khi đó, Thung lũng bắt đầu được tiếp quản bởi những người từng tham gia biểu tình phản chiến, thay vì những người giúp điều hành cuộc chiến đó.
Năm 1976, Steve Jobs và Steve Wozniak đã thành lập Apple Computer cũng trong gara của gia đình Jobs. Nhưng sự bùng nổ của những năm 1970 đã bị người Nhật chặn đứng. Vào “ngày đen tối” 28 tháng 3 năm 1980, Richard Anderson, một quản lý của HP, đã tiết lộ rằng các bài kiểm tra cho thấy chip nhớ của Nhật có hiệu suất vượt trội so với chip của Thung lũng.
Thung lũng cảm thấy hổ thẹn khi đã phải tìm đến chính phủ Mỹ để được bảo hộ. Nhưng nhờ vậy nó cũng đã thay đổi hình thái công, bằng cách thuê ngoài việc sản xuất và đa dạng hoá từ chip sang phần mềm máy tính.
| |
| Hình ảnh trong series về Silicon của HBO. |
Cuộc hoá thân này đã nêu bật điều làm nên sự khác biệt của Thung lũng. Một trung tâm công nghệ cao khác của Mỹ là Tuyến đường 128 (Route 128) ở Boston cũng tự hào sở hữu nguồn vốn mạo hiểm và số lượng các trường đại học nhiều tương đương. Tuy nhiên, khi cả hai cụm này đều sa sút vào giữa những năm 1980, Thung lũng Silicon đã tỏ ra có khả năng phục hồi tốt hơn nhiều.
Lý do nằm ở cấu trúc. Các công ty lớn ở Bờ Đông như Digital Equipment và Data General là những đế chế tự cung tự cấp, chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất là máy tính mini. Ngược lại, mạng lưới các công ty nhỏ của Thung lũng Silicon không ngừng sản sinh ra những công ty mới.
Cũng chính vì lý do đó mà ngành kinh doanh Internet đã tìm thấy ngôi nhà tự nhiên ở miền bắc California. Cuối những năm 1990 chứng kiến một số lượng chưa từng thấy các công ty non trẻ ở Thung lũng tiến hành IPO. Chỉ riêng trong năm 2000, khoảng 20 tỷ đô-la vốn mạo hiểm đã được đổ vào khu vực này.
Đến lúc đó, bong bóng Internet đã bắt đầu tan vỡ. Ngay cả khi tính đến điều đó (và tất cả những mặt trái khác của Thung lũng, như giá nhà cao ngất ngưởng, kẹt xe kinh hoàng, và vẻ ngoài thô kệch nhức mắt), khu vực này vẫn được xem là cụm ngành năng động nhất trên thế giới.
Đến năm 2001, Thung lũng Silicon đã cung cấp việc làm cho 1,35 triệu người, gấp khoảng ba lần con số của năm 1975. Mức năng suất và thu nhập tại đây đại khái cao gấp đôi mức trung bình toàn quốc, và cứ 12 bằng sáng chế mới tại Mỹ thì có một bằng thuộc về khu vực này.
Bình luận