|
| Tượng thiền sư Chuyết Công. Ảnh: Anvien. |
Tóm lại, đọc Chuyết Công ngữ lục, bước đầu chúng tôi thấy:
1. Chuyết Công là vị tăng sĩ người Trung Quốc, tuổi trẻ có chí lớn, từng học Nho và có vốn tri thức rộng; sang Việt Nam, đã đặt chân lên vùng Quảng Nam, Thuận Hóa rồi ra Kinh đô Thăng Long và vùng Kinh Bắc. Ngài là vị tăng sĩ có uy tín với giới quý tộc, có ảnh hưởng lớn đến giới tăng sĩ và tín đồ phật tử đương thời. Về mặt xã hội, thế kỷ XVI - XVII, Nho giáo được nhà nước phong kiến Việt Nam quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi nên phát triển rất mạnh, vì vậy dấu ấn Nho giáo trong mỗi tăng sĩ Phật giáo Việt Nam là rất rõ. Là người Trung Quốc, nơi phát tích của Nho giáo, lại từng cư trú ở Việt Nam nhiều năm, Chuyết Công cũng chịu sự chi phối của đặc điểm chung đó. Điều này thể hiện rõ trong nội dung trả lời những câu hỏi của ba vị quan chức nhà Trịnh.
2. Khi trình bày vấn đề, nhằm thuyết phục người đối thoại, Chuyết Công thường dùng phương pháp so sánh. Chẳng hạn như về vấn đề phát đại nguyện, ngài nói: “Có giới mà không nguyện cũng như có xe mà không có người cầm cương”. Về việc thụ trì ngũ giới: “Có quy y mà không thụ giới giống như có nhà mà không có người ở, có nước mà không có vua”.
Ngài còn so sánh nội dung của một số khái niệm của Khổng Tử với nội dung của một số khái niệm của Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong lập luận, Chuyết Công còn sử dụng thế mạnh của tư duy truyền thống là thiết lập mối quan hệ kéo theo khi trình bày quan điểm của mình. Chẳng hạn, ngài nói: “Không vọng động, động khiến cho thế giới khởi; không rơi vào hư không, rơi vào hư không thì khó cứu được người”...
Cả hai phương pháp trên, chúng ta đều thấy Phật Thích Ca Mâu Ni đã sử dụng rất đắc địa trong kinh Tứ thập nhị chương, kinh Pháp cú, kinh Diệu pháp liên hoa,... Đương nhiên, để thực hiện có hiệu quả các phương pháp này, người trình bày phải vừa có thao tác tư duy tốt, vừa phải có kiến thức rộng. Ở Chuyết Công, chúng ta thấy ngài hội đủ cả hai điều kiện này.
3. Đọc Chuyết Công ngữ lục, chúng ta thấy ở thời kỳ này (thế kỷ XVII), các quan chức cao cấp triều Lê - Trịnh cũng có nhiều người tỏ ra rất quan tâm đến Phật giáo, Phật học, cụ thể là quan tâm tìm hiểu lịch sử đức Phật Thích Ca và các vị Bồ tát, các vị cao tăng; quan tâm đến giáo lý Phật giáo, đến mối quan hệ giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, đến tín ngưỡng thờ cúng Phật, Thánh,...
Điều đó nói lên rằng, vào thời kỳ này, tín ngưỡng Phật giáo không phải chỉ phát triển ở các làng quê với tín đồ là nông dân, mà trong giới quan chức Nhà nước, đặc biệt là giới quan chức cao cấp, họ cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Phật giáo, và giáo lý Phật giáo cũng tác động đến họ với mức độ đáng kể. Có hiện tượng này, chắc chắn phải có vai trò rất lớn của Chuyết Công.
4. Đọc Chuyết Công ngữ lục của Minh Hành, đọc Lý hoặc luận của Mâu Tử và đọc sáu bức thư trao đổi của Lý Miễu với Đạo Cao, Pháp Minh (in lại trong Hoằng minh tập), chúng tôi thấy nội dung được đề cập, cách thể hiện, đối tượng trao đổi,... của các văn bản này là tương đối giống nhau, mặc dù thời điểm xuất hiện của chúng cách xa nhau đến hơn 10 thế kỷ.
Phải chăng, từ khi Đức Phật Thích Ca xuất thế cho đến thế kỷ XVII, phương pháp tư duy, thao tác tư duy, cách truyền đạo và hành đạo của Phật giáo là tuân theo một chuẩn mực nhất định. Nếu giả định này là đúng thì Chuyết Công là người có công lớn trong việc duy trì truyền thống tốt đẹp đó đến giữa thế kỷ XVII.