Cạnh tranh là động lực của tiến hóa; nhu cầu trở nên to hơn, mạnh hơn và khỏe hơn chắc chắn dẫn tới những khả năng thích nghi tạo lợi thế cho loài. Khi hai loài cạnh tranh vì những tài nguyên giống nhau, loài nào có chút lợi thế sẽ hơn hẳn loài còn lại. Kết quả, loài yếu hơn hoặc bị tuyệt chủng hoặc sẽ thích nghi sao cho không còn cạnh tranh nữa.
Giả thuyết này, tên là “quy tắc cạnh tranh loại trừ”, được đặt ra bởi nhà vi sinh người Nga Georgy Gause và còn được gọi là Quy luật Gause.
Gause nghĩ ra quy luật trên từ các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, sử dụng các mẻ cấy vi sinh vật thay vì từ những quan sát trong tự nhiên. Ông cho rằng trong tự nhiên có quá nhiều biến số nên không thể rút ra kết luận về cách hoạt động của các cơ chế sinh thái.
Theo ông, kể từ thời của Darwin, hiểu biết về sự cạnh tranh sinh tồn của muôn loài không tiến bộ mấy, trong khi phương pháp thực nghiệm đã tạo ra những tiến bộ vĩ đại ở các lĩnh vực như di truyền. Trên thực tế, quy tắc cạnh tranh loại trừ - dù là một mô hình lý thuyết hữu ích - rất hiếm thấy trong tự nhiên, đơn giản vì trong nỗ lực để sinh tồn, đối thủ cạnh tranh yếu hơn có xu hướng nhanh chóng chuyển đi hoặc thích nghi.
Né tránh cạnh tranh
Hầu hết sinh vật có thể tạo ra các thay đổi cần thiết để sinh tồn. Nhiều loài chim chung sống trong một khu vườn suốt năm vì tất cả chúng hoạt động trong các “ổ” khác nhau. Mỏ của chim có hình dạng và kích thước khác biệt cho phép chim ăn các loại thức ăn khác nhau - chim cổ đỏ thích côn trùng, chim sẻ thì ăn hạt. Cách chim chọn nơi làm tổ và thời gian ăn uống có thể cũng khác nhau; điều này được gọi là phân chia tài nguyên.
|
| Cách các loài chim chích sống chung. Ảnh trong sách Sinh thái học - Khái lược những tư tưởng lớn. |
Năm 1957, Robert MacArthur nhận thấy hiện tượng này ở các loài chích Bắc Mỹ. Trong năm loài mà ông quan sát, mỗi loài đều có những đặc trưng sặc sỡ riêng biệt, bay ra bay vào các cây lá kim, ăn bọ và những loài côn trùng khác. Các loài chim này chung sống ở một nơi vì chúng không cố ăn trên cùng một phần của cái cây mà ăn trong các tán lá mọc ở độ cao và chiều sâu khác nhau. Theo cách này, chúng tránh được việc cạnh tranh lẫn nhau.
Loài cạnh tranh xâm lấn
Vấn đề thường nổi lên khi một loài lạ bỗng nhiên được du nhập vào hệ sinh thái. Loài sóc đỏ và sóc xám của Anh là một ví dụ điển hình. Khi sóc xám từ Mỹ đến Anh vào thập niên 1870, cả hai loài đã cạnh tranh để giành cùng loại thức ăn và nơi ở, gây áp lực cho các quần thể sóc đỏ bản địa.
Sóc xám giành lợi thế vì chúng có thể thích nghi chế độ ăn; chẳng hạn, sóc xám biết ăn hạt sồi non, còn sóc đỏ chỉ tiêu hóa được hạt sồi chín. Trong cùng khu vực rừng, sóc xám có thể ăn sạch nguồn hạt sồi trước khi sóc đỏ kịp xơi miếng nào. Sóc xám còn có thể chen chúc trong nhiều môi trường sống hơn, nên đã sinh tồn dễ dàng hơn khi rừng bị tàn phá. Kết quả, loài sóc đỏ ở Anh đã gần bị tuyệt chủng.