Venice và Bắc Italy, đầu thế kỷ XVI
Chúng ta hãy cùng đến một trung tâm nghệ thuật khác của Italy, nơi chỉ xếp sau Florence về tầm quan trọng: Venice - thành phố kiêu hãnh và phồn thịnh. Vẫn có quan hệ giao thương mạnh mẽ với phương Đông, Venice, là đô thị Italy cuối cùng tiếp nhận phong cách Phục Hưng, tức là mang các thiết kế cổ điển do Brunelleschi khởi xướng vào xây dựng.
Nhưng khi quá trình tiếp nhận đã diễn ra, phong cách ở Venice lại mang một vẻ vui tươi, ấm áp và lộng lẫy mới mẻ gợi người ta nhớ đến, có lẽ còn rõ ràng hơn hẳn mọi công trình kiến trúc hiện đại, sự huy hoàng của những đô thị thương mại lớn thời Hy Lạp hóa như Alexandria hay Antioch. Một công trình điển hình cho phong cách này chính là Thư viện San Marco.
Kiến trúc sư của công trình này là một người Florence, Jacopo Sansovino (1486 - 1570), nhưng ông đã thay đổi hoàn toàn phong cách và phương pháp của mình theo tinh thần Venice - ánh sáng rực rỡ của nơi đây - vốn được phản chiếu bởi các đầm nước và làm chói mắt người xem bởi vẻ tráng lệ.
Có thể việc phân tích một tòa nhà đơn giản thế này là hơi ra vẻ, nhưng thông qua việc quan sát kỹ nó ta mới nhận thấy các bậc thầy đã khéo léo như thế nào trong việc tạo ra những kiểu mẫu mới mẻ chỉ bằng cách đan cài vào đống yếu tố đơn giản. Khi đó, tầng dưới, với các cột mang phong cách Doric mạnh mẽ, là kiểu cách cổ điển chính thống.
Sansovino đã áp dụng chặt chẽ những quy tắc xây dựng học theo Đấu trường La Mã Colosseum (trang 118, hình 73). Ông cũng bám sát truyền thống này khi sắp xếp các thức cột Ionic ở tầng trên, dùng để nâng đỡ tầng “thượng” (attic), viền quanh là dãy lan can và một hàng các bức tượng ở trên cùng.
Tuy nhiên, thay vì xây các vòm cung hở đặt trên các trụ như Đấu trường Colosseum, Sansovino đặt chúng lên một hàng cột nữa nhỏ hơn được làm theo phong cách Ionic, và vì thế đạt được hiệu ứng các lớp cột phong phú đan vào nhau.
Với dãy lan can, các hoa văn trang trí và nhóm tượng, Sansovino đã tạo cho thư viện một vẻ ngoài mang phong cách trang trí gân mạng, gợi nhớ về kiến trúc mặt tiền kiểu Gothic một thời được ưa chuộng ở Venice (trang 209, hình 138).
Công trình này đại diện cho khiếu thẩm mỹ đã đem lại danh tiếng cho nghệ thuật Venice thời kỳ Cinquecento. Các đầm phá trong thành phố được cho là tác nhân khiến đường nét của cảnh vật trở nên kém sắc nét, và sắc màu của chúng thì hòa lẫn vào một thứ ánh sáng lấp lánh, do đó các họa sĩ nơi đây thường sử dụng màu sắc thận trọng và tinh xảo hơn so với đồng nghiệp ở các vùng khác của nước Ý tính đến thời điểm ấy.
Rất có thể mối liên hệ [giữa các nghệ sĩ thành Venice với các nghệ nhân làm đồ khảm ở kinh đô Constantinople đã phần nào ảnh hưởng đến xu hướng này. Rất khó để nói hay viết về màu sắc, và không có hình minh họa in màu nào, đặc biệt khi đã thu nhỏ về kích cỡ, có thể mô tả đầy đủ vẻ ngoài chân thực của một kiệt tác về sắc màu.
Nhưng từng đó là đủ để chắc chắn là: họa sĩ thời Trung Cổ không để tâm tới màu sắc “thực” của vật nhiều bằng hình dạng thật của chúng. Trên các bức tiểu họa, đồ tráng men hay tranh tấm, các họa sĩ chuộng dùng những màu tinh khiết nhất và quý nhất mà họ có thể kiếm được, trong đó, màu vàng kim sáng óng (shining gold)¹ và sắc xanh biển hoàn mỹ (ultramarine blue)² là một cách phối màu rất được ưa chuộng.
Các nhà cách tân lớn của thành Florence không chú trọng màu sắc bằng cách vẽ. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là màu sắc trong tranh của họ kém tinh tế mà ngược lại mới đúng; song ít người coi màu sắc là phương tiện chính nhằm liên kết các nhân vật và hình dáng khác nhau thành một mẫu thống nhất.
Luật phối cảnh và cách sắp xếp bố cục mới là các thủ pháp họ ưa dùng, trước cả khi đi những nét cọ tô màu đầu tiên. Về phần mình, có vẻ như các họa sĩ thành Venice không hề nghĩ rằng màu sắc chỉ đơn giản là yếu tố tô điểm thêm cho bức tranh sau khi nó đã được vẽ lên tấm gỗ.
|
| Kiệt tác Đức Mẹ bên các thánh (Madonna with saints) do danh họa Giovanni Bellini sáng tác vào năm 1505. Ảnh: Wikiart. |
Khi bước vào trong Nhà thờ San Zaccaria ở Venice và đứng trước tác phẩm tranh điện thờ được đại danh họa thành Venice Giovanni Bellini (1431? – 1516) vẽ vào năm 1505 – khi ông tuổi đã luống tuổi - người xem lập tức sẽ thấy ngay cách sử dụng màu sắc của ông hoàn toàn khác biệt.
Sự khác biệt ấy không đến từ vẻ rực rỡ hay sự tỏa sáng của bức tranh. Thay vào đó, nó bắt nguồn từ những màu sắc êm dịu và phong phú gây ấn tượng cho người xem trước cả khi họ kịp chú ý đến nội dung của bức tranh.
Tôi cho rằng kể cả ảnh chụp lại bức tranh cũng có thể truyền tải phần nào bầu không khí ấm áp và lấp lánh phủ đầy hốc tường nơi Đức Mẹ Đồng trinh đang ngồi trên ngai tòa, với Chúa Hài Đồng đang giơ đôi tay bé nhỏ của Ngài ban ân sủng cho những người cầu nguyện ở điện thờ.
Ở chân điện thờ, một thiên thần đang nhẹ nhàng chơi vĩ cầm, còn các vị thánh im lặng đứng ở hai bên ngai tòa: người cầm chìa khóa và cuốn sách trong tay là Thánh Peter; Thánh Catherine giữ nhành cọ tử vì đạo và bánh xe gãy; ở bên phải bức tranh là Thánh Lucy và Thánh Jerome, vị học giả đã có công dịch Kinh Thánh sang tiếng Latin và vì thế được Bellini diễn tả đang đứng đọc sách.
Vô số tác phẩm trước và sau đó cũng thể hiện chủ đề Đức Mẹ bên các thánh, ở Ý cũng như nhiều nơi khác, nhưng chỉ số ít làm nổi bật được sự cao quý và tĩnh lặng như thế.
Theo truyền thống Byzantine, hình ảnh của Đức Mẹ thường được vây quanh một cách cứng nhắc bởi hình ảnh của các thánh (trang 140, hình 89). Bellini biết cách thổi hồn vào bố cục đối xứng giản đơn này mà không phá hỏng trật tự của nó.
Ông cũng biết cách làm sao cho nhóm nhân vật Đức Mẹ và các thánh trong truyền thống trở nên chân thực và sống động mà không tước mất vẻ uy nghiêm và nét linh thiêng của họ. Bellini thậm chí không cần hy sinh tính đa dạng và đặc thù của đời thực, điều mà Perugino đã phải làm ở một mức độ nhất định (trang 314, hình 202).
Thánh Catherine với nụ cười mơ màng, và Thánh John, vị học giả có tuổi đang chìm đắm trong cuốn sách - cả hai trông đều “thật” theo cách của riêng họ; mặc dù cũng giống như nhân vật của Perugino, họ như thể thuộc về một thế giới khác đẹp đẽ và yên bình hơn - một thế giới được rót đầy thứ ánh sáng ấm áp và siêu thực như trong bức tranh này.
-----------------------------------
1. Màu này thường được tạo ra bởi các lá vàng được sử dụng trong kỹ thuật mạ vàng.
2. Còn được gọi là “màu lam sẫm”, “xanh hải quân”. Màu “ultramarine” được sản xuất bằng cách nghiền đá Lapis Lazuli, một loại đá khoáng quý hiếm hoi chỉ tìm được ở một vài mỏ đá tại Afghanistan thời Trung Cổ. Chính vì sự quý hiếm này mà vào thời ấy, việc các danh họa tạo ra cũng như những nhà bảo trợ sở hữu những tác phẩm sử dụng màu ultramarine thể hiện sự giàu có cũng như mức độ bảo trợ của họ.
Bình luận