Vài nét lịch sử chùa Phật Tích Núi Tiên hay Tiên Sơn, còn được gọi là núi Lạn Kha hay Phật Tích. Theo sử cũ, ngày xưa có chàng Vương Chất giả làm tiều phu, đi ngao du gặp hai ông tiên đánh cờ, chàng chống rìu đứng xem cho đến khi xong ván cờ, nhìn lại cán rìu đã mục, từ đó nơi ấy có tên là Lạn Kha hay núi Tiên.
Còn tên gọi Phật Tích gắn với sự kiện ngôi tháp do vua Lý Thánh Tông xây dựng năm 1057 bị đổ, trong đó có bức tượng Phật A Di Đà bằng đá quý thếp vàng vẫn còn nguyên vẹn, vì kính quý Đức Phật và cho rằng đó là điều hiếm có xảy ra nên dân chúng đổi tên làng Tiên Sơn là Phật Tích, núi Phật Tích và chùa Phật Tích như tên gọi ngày nay.
|
| Bức tượng Phật A Di Đà tại chùa Phật Tích. Ảnh: Thư viện Huệ Quang. |
Vào những thế kỷ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ X, chùa Tiên Sơn đã là nơi hội tụ và dừng chân của các nhà truyền giáo đầu tiên từ Ấn Độ sang nước ta như Khâu Đà La (189), Ma Ha Kỳ Vực (298 - 300).
Có thể nói, Trung tâm tu học Tiên Sơn cùng thời với Trung tâm Phật giáo Luy Lâu (chùa Pháp Vân) do Sĩ Nhiếp dựng lập năm 129. Đến năm 425, pháp sư Đàm Hoằng từ Trung Quốc sang tu học, hành đạo tại Tiên Sơn, chuyên thọ trì kinh Vô lượng thọ và kinh Thập lục quán. Nội dung kinh Vô lượng thọ nói về tiền thân Phật A Di Đà và 48 lời nguyện của ngài khi còn tu nhân dưới thời Đức Phật Bảo Tạng.
Nội dung kinh Thập lục quán nói về các pháp quán cảnh Tây phương cực lạc và thân tướng Phật A Di Đà, gồm 16 pháp quán. Sư Đàm Hoằng phát nguyện một lòng cầu về an dưỡng quê hương Phật A Di Đà. Năm 455, pháp sư Đàm Hoằng viên tịch. Sau đó có ngài Huệ Thắng và Đạo Thiền tiếp tục tu học, hành đạo tại đây.
Từ năm 440 đến năm 527, ngài Huệ Thắng và Đạo Thiền thọ giáo với thiền sư ngoại quốc người Ấn Độ Dharmadeva và được Thiền sư dạy cho phép Thiền quán. Nhất là ngài Huệ Thắng, chuyên thọ trì kinh Pháp hoa, tu tập Thiền quán, chứng Pháp hoa tam muội. Có thể nói, chùa Tiên Sơn cũng là nơi dừng chân của các thiền sư Đạo Cao, Pháp Minh.
Năm 580, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam, đến trụ tại chùa Pháp Vân, độ Pháp Hiền làm đệ tử. Tại đây, Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch kinh Đại Tổng trì tam muội, trong đó có đoạn: Đức Phật Thích Ca tự giới thiệu những kiếp quá khứ, có Tỳ kheo Tịnh Mạng và về sau tu hành thành Phật hiệu A Di Đà. Như vậy, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi với tư tưởng Tịnh độ đã có từ trước và có sự dung hợp với nhau.
Sau khi Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi viên tịch năm 594, Pháp Hiền về lập chùa Chúng Thiện tại núi Tiên Du (Tiên Sơn), dù không cư trú tại chùa Tiên Sơn nhưng cùng một làng và có sự dung hợp pháp môn Thiền và Tịnh. Do đó, sự hoằng pháp lợi sinh vẫn tác động qua lại giữa các trung tâm giáo dục Phật giáo là Luy Lâu và Chúng Thiện cũng như Tiên Sơn (594 - 626).
Đến năm 820, Thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang Việt Nam, đến chùa Kiến Sơ (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày nay) hoằng hóa đạo Thiền, độ được Cảm Thành, trở thành đệ tử đầu tiên. Thiền sư Cảm Thành là người huyện Tiên Du, xuất gia tu hành tại chùa Đông Lâm trên núi Tiên..., pháp danh Lập Đức. Mối liên hệ giữa Thiền sư Võ Ngôn Thông và Thiền sư Cảm Thành là một sự dung hợp giữa pháp tu và hành đạo, dù sư tu học tại chùa Tiên Sơn thời kỳ này chưa rõ nét.
Phải đến thời Lý (1009 - 1225), mô hình sinh hoạt, tu tập tại chùa Tiên Sơn mới được rõ nét và quy mô, khi chùa được công nhận là quốc tự dưới thời Lý. Năm 1041, vua Lý Thái Tông cho xây Viện Từ Thị Thiên Phúc và đúc tượng Phật Di Lặc nặng 7.560 kg để tôn thờ ở nơi đây.
Kể từ đó, núi Thiên Phúc hay chùa Thiên Phúc được hình thành thay cho tên chùa Tiên Sơn. Những năm 1057 - 1066, vua Lý Thánh Tông cho xây chùa Thiên Phúc và dựng tháp cao nhất nước, bên trong sai Lang tướng Quách Mãn tạo dựng Phật A Di Đà thếp vàng cao 1,87 m, tính cả bệ là 2,87 m, tôn thờ trong bảo tháp Thiên Phúc, đúc hai tượng Phạm Thiên và Đế Thích bằng vàng thờ trước chùa.
Năm 1071, vua Lý Thánh Tông thăm chùa và núi Thiên Phúc, cho viết chữ “Phật” dài hơn 5 m, khắc vào núi Thiên Phúc để kỷ niệm. Các triều vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông đều đến sinh hoạt tại quốc tự Thiên Phúc từ năm 1073 đến năm 1210.
Sang đời Trần (1226 - 1400), chùa Thiên Phúc vẫn là quốc tự, nhưng được đổi tên là Vạn Phúc. Năm 1279 - 1280, vua Trần Nhân Tông đã cho xây cung Bảo Hòa và thư viện Lan Kha.
Năm 1383, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông đến đọc sách, thưởng ngoạn tại chùa Phật Tích và cho sáng tác tập Bảo Hòa dư bút. Năm 1384, Thượng hoàng tổ chức cho thi Thái học sinh (Tiến sĩ) tại đây để chọn người tài đức phục vụ đất nước.
Năm 1497, vua Lê Hiển Tông tổ chức đại yến của triều đình tại đây. Từ năm 1635 đến năm 1644, Thiền sư Chuyết Chuyết đã đến hành đạo tại chùa Phật Tích. Chúa Trịnh Tráng rất quý kính và thỉnh cầu Ngài cho đệ tử là Minh Hành Tại Tại sang Trung Quốc thỉnh kinh tạng về tôn trí tại chùa Phật Tích cho đến ngày nay.
Đến thời Lê Trung hưng (1686), chùa bị xuống cấp, các vua Lê đã cho tu bổ lại như mô hình cũ, gọi là chùa Phật Tích (tên chữ là Vạn Phúc), nghĩa là do phát hiện tượng Phật A Di Đà trong bảo tháp do vua Lý Thánh Tông tạc năm 1057.
Theo thời gian, chùa xuống cấp trầm trọng, có một đại thí chủ là Nguyễn Đồng Khoa, thời vua Thiệu Trị (1841 - 1847) đã bỏ công, bỏ của trùng tu lại khang trang, đẹp đẽ dưới thời nhà Nguyễn, đây cũng là sự tu bổ cuối cùng của chùa Phật Tích. Từ những năm 1947 - 1952, thực dân Pháp chiếm chùa Phật Tích và phá hủy hoàn toàn ngôi quốc tự này, chỉ còn nền gạch và một số pho tượng phật, tổ và một vài pháp khí khác.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, năm 1959, chùa Phật Tích được Nhà nước cho xây dựng lại theo quy mô nhỏ để tôn thờ các di vật còn lại. Đến năm 1962, chùa Phật Tích được Bộ Văn hóa công nhận là Di sản văn hóa cấp quốc gia. Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời; chùa Phật Tích là đơn vị Phật giáo thuộc tỉnh Hà Bắc, đến năm 2000 thuộc tỉnh Bắc Ninh. Giáo hội đã cử Thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam trụ trì ngôi chùa di tích lịch sử này.
Năm 2008, được sự cho phép của Chính phủ, Thượng tọa trụ trì khởi công đại trùng tu xây dựng mới một số công trình, trong đó có công trình tạc tượng Phật bằng đá quý cao gần 30 m, tính cả bệ là 30 m trên núi Phật Tích. Tượng Phật A Di Đà mới là theo tôn tượng Phật A Di Đà cao 1,87 m, nếu tính cả bệ là 2,87 m, do vua Lý Thánh Tông cho tạc năm 1057 còn lại được tôn thờ tại chính điện. Đặc biệt, năm 2009, được sự hỗ trợ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chùa Phật Tích vinh dự được cung nghinh Phật ngọc cho hòa bình thế giới từ Thái Lan sang Việt Nam (Thành phố Hồ Chí Minh) về tôn trí tại chùa cho tăng ni, phật tử hành lễ chiêm bái trong thời gian một tuần. Sau đó tượng được cung rước sang Hoa Kỳ và cuối cùng trở về tôn thờ vĩnh viễn tại Ôxtrâylia.