Về mặt lịch sử, thiết kế hiển hiện của thế giới đã được dùng làm bằng cớ rằng có một mục đích căn bản cho các hoạt động của tự nhiên. Cách nhìn này gợi nhớ về Aristotle, nhà triết học có lẽ có ảnh hưởng nhất trong lịch sử nhân loại.
Cũng là nhà sinh học tinh tế, Aristotle đã quan sát thấy rằng nhiều quá trình xảy ra trong thế giới sống dường như mang đầy chủ đích. Ông nghĩ, nếu các đối tượng sống không có năng lực suy nghĩ mà lại có một chương trình hành động, thì cần phải có một Mục tiêu Tối thượng điều khiển toàn bộ vũ trụ.
Lý lẽ mục đích luận của Aristotle là thuyết phục, logic, hữu ích, và ở mức độ nào đó đã được sinh ra từ trải nghiệm; thế giới quanh ta phô diễn vô số ví dụ về các mục tiêu tối thượng đang vận hành, từ con chim gom các nhánh cây để làm tổ, tới chú chó đào cái hố trong vườn để lấy khúc xương.
Thế nên, không có gì ngạc nhiên khi cách nhìn mục đích luận của Aristotle đã trụ lại, hầu như không bị phản bác, trong gần hai thiên niên kỷ.
Nhưng rồi, vào thế kỷ 16, đâu đó trên các vùng ngoại vi của lục địa Á-Âu, công trình của một nhóm nhỏ các học giả đã khởi phát cuộc cách mạng khoa học hiện đại. Copernicus, Descartes, Bacon, Galileo, và những người cùng thời của họ đã nhấn mạnh rằng các giác quan của ta có thể phản bội ta.
Họ tâm đắc châm ngôn Latin Ignoramus, theo nghĩa đen, “Chúng ta không biết”. Sự thay đổi về quan điểm này đã có những ảnh hưởng lan tỏa xa và rộng. Một số thậm chí xem đó chính là sự chuyển đổi ảnh hưởng mạnh mẽ có một không hai trong gần hai trăm ngàn năm, khoảng thời gian mà loài người đã trú ngụ trên hành tinh này.
Hơn thế nữa, ý nghĩa đầy đủ của nó vẫn chưa bộc lộ. Kết quả quan trọng tức thời của cuộc cách mạng khoa học, ít nhất trong giới học thuật, là từ chối thế giới quan mục đích luận bảo thủ nặng nề của Aristotle và thay bằng ý tưởng rằng tự nhiên được điều hành bởi các quy luật hợp lý, đang vận hành ở đây và bây giờ, mà chúng ta có thể khám phá và thấu hiểu.
|
| Vũ trụ chỉ trùng hợp may mắn hay có mục tiêu tối thượng? Ảnh: Medium. |
Thật vậy, thực chất của khoa học hiện đại là, bằng việc thừa nhận sự ngu dốt, chúng ta có thể thu nhận được kiến thức mới thông qua tiến hành thực nghiệm, quan sát, và qua việc phát triển các mô hình toán học mà chúng sắp xếp những quan sát này trong các lý thuyết tổng quát hay “các định luật”.
Tuy nhiên, nghịch lý thay, cuộc cách mạng khoa học đã làm tăng thêm thách đố về tính thân thiện sinh học của vũ trụ. Trước cuộc cách mạng khoa học, một sự thống nhất nào đó đã làm chỗ dựa cho quan niệm của con người về thế giới: Cả thế giới hữu sinh lẫn vô sinh đều được xem là chịu sự dẫn dắt của một mục đích bao trùm tất cả, thần thánh hoặc không.
Bản thiết kế thế giới được nhìn nhận như một biểu hiện của hoạch định vũ trụ vĩ đại, mà nó, một cách tự nhiên, đã dành cho loài người vai trò đặc quyền. Chẳng hạn, mô hình thế giới cổ đại do nhà thiên văn học xứ Alexandria Ptolemy đề xuất trong cuốn sách của ông, Almagest, vừa lấy Trái đất làm trung tâm vừa lấy con người làm trung tâm.
Nhưng với sự xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học, bản chất nền tảng của quan hệ giữa sự sống và vũ trụ vật lý đã trở nên đầy rẫy nhầm lẫn. Gần năm thế kỷ trôi qua, sự bối rối của chúng ta trước thực tế rằng các định luật vật lý, được giả định là vĩnh hằng, khách quan, độc lập với con người, gần như phù hợp hoàn hảo cho sự sống, là một biểu hiện rõ ràng của sự nhầm lẫn này.
Thành thử, mặc dù khoa học hiện đại đã loại bỏ thành công sự phân chia xưa cũ giữa bầu trời và mặt đất, nó lại tạo ra một rạn nứt ghê gớm mới, giữa các thế giới hữu sinh và vô sinh, khiến cho nhận thức của con người về vị trí của mình trong sơ đồ vũ trụ vĩ đại không thật chắc chắn lắm.
Thực tế là, chúng ta có thể đạt được sự đánh giá tốt hơn về cách thức mà những quan điểm của con người về bản thể học của các định luật tự nhiên đã trở thành như hiện hữu bằng cách trở về những cội nguồn sâu xa hơn của ý tưởng, rằng có các định luật.